Mục tử theo gương thánh Giuse
Chủ nhật - 25/01/2026 20:07
23
Lật giở những trang Tin Mừng, chúng ta có lẽ không khỏi bất ngờ khi thấy hình ảnh Thánh Cả Giuse, cha nuôi của Ngôi Lời Nhập Thể lại quá mờ nhạt đến đơn điệu. Chiêm ngưỡng con người và cuộc đời ngài, một bác thợ mộc quê mùa, chúng ta thấy nơi ngài dường chẳng có gì để chiêm ngưỡng, để noi gương. Ngài xuất hiện rất khiêm tốn, không màu mè, chẳng có chút gì nổi bật, dù thuộc dòng dõi vua Đa-vít (x. Lc 1,27) và cách ngài lùi vào trong hậu trường trong cuộc đời Đấng Cứu Thế, hay lịch sử cứu độ cũng thầm lặng như vậy. Dù được dành một vị trí đặc biệt hơn trong Mátthêu, hay hoàn toàn xóa mình trong Mác-cô, thì trong toàn bộ Kinh Thánh, Thánh Cả Giuse vẫn hoàn toàn im lặng, không một lần lên tiếng. Thế nhưng, chính những nét chấm phá tưởng như sơ sài, nghèo nàn và hoàn toàn thinh lặng của Thánh Giuse lại làm nổi bật một nhân cách lớn. Để rồi, cuộc đời và sứ vụ của Thánh Giuse trong chương trình của Thiên Chúa nơi Thánh Gia bừng sáng, đúng như lời của Vịnh Gia:“chẳng một lời một lẽ chẳng nghe thấy âm thanh mà tiếng vang đã dội khắp hoàn cầu và thông điệp loan đi tới chân trời góc biển (x. Tv 19, 4-5).[1] Quả thật, trong bức tranh được vẽ bằng một “gam màu” duy nhất là “thinh lặng”, Thánh Giuse nổi bật lên với những đức tính cao cả, mà con người mọi thời, đặc biệt các mục tử trong ơn gọi và sứ vụ của mình luôn cần noi gương bắt chước, nhất là trong thế giới hôm nay. Trong chiều hướng đó, người viết muốn phác họa, điểm xuyết một vài nhân đức nổi bật nơi Thánh cả Giuse, mà thiết nghĩ cần thiết cho sứ vụ mục tử, qua các hoạt việc mục vụ của mình nơi các giáo xứ hay trong các cộng đoàn.
Lắng nghe
Thế giới ngày càng phát triển, con người càng vội vã, bon chen đến mức dường như dần đánh mất khả năng lắng nghe. Thật vậy, con người như thể đánh rơi những khoảng lặng cần thiết, nhất là khoảng lặng nội tâm để lắng nghe chính mình, lắng nghe nhau, và nhất là lắng nghe tiếng Chúa. Hệ quả là con người bị cuốn vào vòng xoáy của sự ồn ã, của sự xao động khiến đôi khi hay nhiều lúc không nhận ra mình là ai? người là ai? Để rồi thay vì cảm thông, chúng ta thích tranh cãi, tranh luận và gây chiến… đơn giản vì chúng ta đã bịt đôi tai trước tiếng kêu than, cầu cứu của người xung quanh hay của chính tâm hồn chúng ta, và như một tất yếu, tiếng Chúa khi ấy trở nên thật xa lạ, lạc lõng, mất hút. Thực tế mục vụ giáo xứ cho thấy là những người mục tử, hẳn nhiên khả năng lắng nghe là điều vô cùng quan trọng, quyết định thành bại của sứ mạng người mục tử. Bởi vì, một mục tử không có khả năng lắng nghe, không có những khoảng lặng, làm sao đôi mắt và đôi tai tâm hồn chúng ta đủ nhạy bén để nghe được tiếng Chúa thì thầm; không thể lắng nghe, đương nhiên một mục tử không thể đối thoại với giáo dân, thậm chí với chính mình; không lắng nghe, làm sao mục tử có thể nghe được, thấu được những tâm tư, khát vọng và cả những nỗi quặn đau, lời cầu cứu của đàn chiên…. Chỉ khi biết lắng nghe trong đối thoại, chân thành, mục tử mới hiểu được những thao thức, những nỗi băn khoăn, đau khổ và cả những thử thách, ngay cả những thái độ chống đối, bất tuân của đoàn chiên. Vì thế, lắng nghe dù là khả năng thực sự không dễ, nhưng thiết tưởng mỗi mục tử cần phải tập theo gương Thánh Giuse, mẫu gương tuyệt với về sự lắng nghe. Nhờ đó, mỗi người mục tử luôn biết khiêm tốn, đôi khi cần sự hạ mình để nghe được tiếng Chúa, hiểu được tiếng chiên mà cảm thông, mà thương xót và chăm sóc tốt nhất cộng đoàn của mình.
Quả thật, Thánh Giuse là con người của lắng nghe. Những trang Tin Mừng đơn sơ về Thánh nhân cho ta thấy ngài là một con người có một tâm hồn với đôi tai vô cùng nhạy bén, tinh tế khi Thánh nhân luôn chìm đắm trong sự chiêm niệm, ngay cả những giây phút đen tối của đêm tối đức tin, để kiếm tìm, nghe tiếng Chúa và mau mắn thực thi Lời Ngài. Nếu không biết lắng nghe, hẳn nhiên Thánh Giuse không thể nghe được tiếng Chúa và thực thi mệnh lệnh của Ngài; không lắng nghe trong thinh lặng và cầu nguyện, hẳn nhiên Đức Maria đã không thể yên ổn thụ thai và hạ sinh Ngôi Lời Nhập Thể cho nhân loại; không lắng nghe, làm sao gia đình Thánh Gia có thể bình an vượt qua những biến cố kinh hoàn, cũng như hạnh phúc với sự hoàn toàn “vâng phục của Hài Nhi” (x. Lc 2, 51), cùng với sự trìu mến dịu dàng, thấu hiểu của Mẹ Maria…; và không lắng nghe, hẳn nhiên lịch sử cứu độ có thể đã chuyển hướng theo một ngã rẽ khác…
Khiêm tốn, xóa mình ra không
Chúng ta đều biết rằng “khiêm tốn bao nhiêu không đủ, kiêu ngạo một chút thôi cũng thừa”[2]. Quả thật, là một con người, sự khiêm tốn và tế nhị trong cuộc sống là điều vô cùng cần thiết. Chiêm ngắm cuộc đời Thánh Giuse, chúng ta nhận thấy nơi ngài sự khiêm tốn thẳm sâu. Dù chỉ vài câu Kinh Thánh phác họa, nhưng dung mạo Thánh nhân thực sự toát lên một sự khiêm tốn lạ lùng, và chắc chắn sự khiêm tốn thực sự là một trong những yếu tố quan trọng làm nên thương hiệu công chính của ngài (x. Mt 1, 19). Người công chính là người luôn biết lắng nghe và thi hành điều mà Chúa truyền dù nhiều khi không hiểu hết, thậm chí ngược với ý riêng của mình...
Tin Mừng lột tả thật sống động khi được sứ thần báo tin về “Thiên thai” nơi cung lòng Đức Trinh nữ Maria, cùng với lệnh truyền rước nàng Maria về nhà, thay vì phản ứng với một thái độ khó chịu, một sự phản kháng của lòng kiêu hãnh bị tổn thương, Thánh Giuse đã lập tức loại trừ hoàn toàn sự kiêu ngạo cố hữu nơi một con người, để khiêm tốn, mau mắn đón vợ về nhà mình (x. Mt 1, 20-24)… Ngài chấp nhận xóa mình ra không để Thánh ý Chúa được thực hiện, một điều chẳng phải dễ với nột chàng thanh niên. Sự khiêm tốn thẳm sâu được xây dựng trên một tâm hồn đơn sơ, Thánh thiện giúp Thánh nhân can đảm chấp nhận gạt bỏ tự trọng và sự kiêu ngạo để có thể sống theo ý Chúa thay vì ý mình… Như thế, hình ảnh công chính bao phủ lên toàn bộ cuộc đời của Thánh Giuse được thể hiện cách cụ thể qua sự khiêm tốn tuyệt vời của ngài…[3]
Sự khiêm tốn của Thánh nhân không phải đến từ tính nhút nhát, sự nhu nhược nhưng đến từ một sự phân định, một thái độ tỉnh thức tuyệt vời của một tâm hồn đầy Chúa. Thánh nhân luôn đặt ý Chúa trên ý riêng của mình, trung tín cộng tác đắc lực vào việc thi kế hoạch cứu độ của Ngôi Lời Nhập Thể, chẳng quản ngại khó khăn, hiểm nguy bằng một tinh thần vô cùng quyết đoán. Quả thật, nơi Thánh Giuse, ta gặp thêm ở đây thêm một nét cá tính căn bản của Thánh nhân: khả năng nhận biết Thiên Chúa và khả năng phân định của Thánh nhân. Chỉ có người luôn tỉnh thức trước điều thiên linh, luôn nhạy cảm với Thiên Chúa và đường lối của Người mới có thể gặp sứ điệp của Thiên Chúa được như thế. Và khả năng phân định giúp ngài nhận ra đó chỉ là giấc mơ hay sứ thần Thiên Chúa đã thật sự đến và trò chuyện với ngài…[4]
Là một mục tử, trong sứ vụ của mình, trong hành trình nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô, nhất là trong việc mục vụ giáo xứ trong thời đại hôm nay, người mục tử chắc chắn phải đối diện với vô vàn khó khăn bủa vây, cùng cơ man những cơn cám dỗ ngọt ngào vuốt ve, mơn trớn để làm bùng lên tính kiêu ngạo, coi mình là trung tâm. Nhất là khi có quyền trong tay, đôi khi hay nhiều lúc mục tử quên mất sứ mạng phục vụ của mình, để rồi chẳng đủ khiêm tốn để lắng nghe. Sự kiêu ngạo hoàn toàn che mờ hình ảnh Đức Ki-tô nơi mục tử và khiến ngài dễ rời vào não trạng của một cha xứ toàn năng, kiêu ngạo và tự mãn về khả năng của mình. Chính vì thế, nhìn lên sự khiêm tốn thẳm sâu của Thánh Giuse, hẳn nhiên, mẫu gương về sự khiêm tốn nơi Thánh nhân là điều thiết thực giúp sứ vụ của một mục tử được thành toàn trong kế hoạch của Chúa..
Kiên nhẫn
Công việc mục vụ của các mục tử trong thế giới hôm nay đòi hỏi sự kiên nhẫn sâu xa hơn. Thật vậy, người giáo dân ngày nay với não trạng thay đổi, đời sống đức tin, nhất là của người trẻ chắc chắn bị tác động không nhỏ của vòng xoáy cơm áo gạo tiền, làn sóng di dân, cơn bão công nghệ cùng nhiều làn sóng tư tưởng thời đại. Trong một bầu khí đức tin và đời sống đạo như thế, việc mục vụ của các mục tử quả thật cần một sự kiên nhẫn đầy quả cảm, kiên cường của một tâm hồn biết chạnh thương. Bởi nếu không có sự kiên nhẫn, nhất là với sự nôn nóng, hay nổi nóng, một mục tử rất dễ thay vì xây dựng một cộng đoàn đức tin bén rễ sâu trong Chúa, hoàn toàn có thể đánh bật gốc, thậm chí phá nát đàn chiên, vốn đã đầy thương tích của mình.
Để có thể kiên nhẫn trong việc mục vụ, các mục tử hẳn nhiên phải rập khuôn đời mình theo khuôn mẫu kiên nhẫn hoàn hảo của Đức Ki-tô. Nhưng bên cạnh đó, chiêm ngưỡng cuộc đời Thánh Giuse, chúng ta cũng nhận ra nơi ngài một sự kiên nhẫn tuyệt vời, mà có lẽ chính trẻ Giê-su cũng đã học nhân đức đó nơi Cha nuôi của mình. Sự thinh lặng kiên nhẫn của Thánh Giuse dẫn tới những thể hiện cụ thể của lòng tin.[5] Cách cụ thể, sự kiên nhẫn của Thánh nhân được thể hiện hoàn hảo ngang qua biến cố Giáng Sinh (x. Mt 2, 13-16) và nhất là khi tìm kiếm trẻ lạc Giê-su trong chuyến hành hương lên Giê-ru-sa-lem (x. Lc 2, 41-52).... Chính nhờ sự kiên nhẫn, Thánh Cả Giuse luôn gìn giữ được an toàn và đẩy bước Thánh Gia nên trọn hảo trong chương trình của Chúa. Hình ảnh người công chính nơi Giuse một lần nữa được cho thấy cách cụ thể. Ngài là người có tâm hồn tỉnh thức để sớm hiểu ra và chấp nhận sứ điệp của Thiên Chúa, sự tỉnh thức biến thành vâng phục.[6] Một sự vâng phục trong kiên nhẫn và tình yêu nhiệm lạ của Thánh Giuse chính là mẫu gương cho người mục tử trong việc mục vụ trong bối cảnh thế giới và con người hôm nay…
Chủ gia đình
Giáo xứ hay một cộng đoàn mà một mục tử được giao phó coi sóc là gia đình của mục tử ấy, dù ngài hiện diện dù chỉ một khoảng khắc, một thời điểm, hay lâu năm. Trong gia đình thiêng liêng ấy, mục tử là một người cha tinh thần, một nhà quản trị để phân phát kho tàng thiêng liêng của Chúa và Giáo Hội cho đàn chiên của mình. Tuy nhiên, dù mục tử là chủ gia đình giáo xứ, nhưng chắc chắn không phải một người chủ độc tài, độc quyền, độc đoán, thậm chí độc ác… Trái lại, gia đình ấy luôn cần một người cha, một người cha hiền hết lòng vì đàn chiên, cương nghị nhưng cũng khiêm tốn, biết cúi xuống để nâng con cái mình lên, sống tinh thần phục vụ gia đình trong tư cách một người cha hiền. Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô trong tông thư Patris Corde đã nói: “Thế giới chúng ta ngày nay cần những người cha. Nó không chấp nhận những bạo chúa, những kẻ hà hiếp người khác như phương tiện để bù đắp cho những nhu cầu của mình”[7]
Chỉ vài lần xuất hiện chớp nhoáng trong Tin Mừng, nhưng điều mà không ai có thể phủ nhận nơi Thánh Cả Giuse đó là con người luôn hết lòng vì gia đình, vì cộng đoàn, vì “giáo xứ Thánh Gia”. Quả vậy, để bảo vệ tính mạng và danh dự cho người mình yêu là Đức Maria cùng đứa con trong bụng, Thánh nhân đã chấp nhận mang lấy nơi mình nỗi đau trong thinh lặng, và cả những lời đàm tiếu ảnh hưởng tới danh dự của mình, để bỏ đi cách kín đáo, chấp nhận cả sự kết án tệ hại nhất. Cũng vậy, khi đã nhận ra kế hoạch mà Thiên Chúa muốn thực hiện, Ngài đã không quản ngại, mau mắn thực hiện vai trò chủ gia đình của mình khi ngoan ngùy làm theo ý Chúa để bảo vệ, nâng đỡ các “cộng đoàn Thánh Gia, nơi có Hài Nhi Giê-su và Mẹ Maria” trong mọi cảnh huống, dù gian nguy, thử thách nhất. Nhờ đó mà gia đình, giáo xứ Thánh Gia luôn được bình an và chương trình cứu độ của Thiên Chúa không bị ngắt quãng.
Các mục tử cũng vậy, là những người chủ của gia đình giáo xứ, gia đình của Thiên Chúa, hẳn nhiên người mục tử cũng cần thể hiện vai trò của người cha khi hết lòng bảo vệ gia đình giáo xứ. Mục tử phải là người cha biết và thương xót từng con chiên, nhất là những con chiên có thể còn non nớt, yếu đuối như Hài Nhi xưa, hay những con chiên đau yếu, bệnh tật, đang phải đối diện với những thử thách, đau khổ trong cuộc đời. Nhờ đó, khi hết lòng bảo vệ đàn chiên của mình trong sự lắng nghe và tinh thần phục vụ, gia đình giáo xứ sẽ được yên vui và thăng tiến trong bình an và tình yêu của Chúa.
Trách nhiệm
Chỉ qua những dòng thật đơn sơ về Thánh Giuse nơi các Tin Mừng, chúng ta nhận thấy nơi Thánh Giuse một con người của trách nhiệm và trung tín tuyệt vời. Khi đã hiểu và thông tỏ kế hoạch nhiệm lạ của Thiên Chúa, Ngài đón nhận, vui vẻ thi hành và làm tất cả với tinh thần trách nhiệm, hầu mong kế hoạch của Thiên Chúa được thành toàn...
Gương Thánh Cả cũng là bài học cho các mục tử trong thế giới hôm nay, bởi nơi Giáo Hội, vẫn còn đó một số mục tử, thay vì cộng tác trong kế hoạch của Thiên Chúa, lại phủi tay, chạy trốn trách nhiệm, nhất là trong công việc mục vụ của mình trên đoàn chiên mà Chúa trao. Chính vì thế, noi gương Thánh Giuse, các vị mục tử, cũng biết học nơi ngài tinh thần trách nhiệm, cùng sự thinh lặng trong khiêm tốn và cầu nguyện, để rồi có thể nhận ra Thánh ý Thiên Chúa, biết tôn trọng phẩm giá cũng như giá trị cao quý của con người, trước là các thành viên trong cộng đoàn, giáo xứ của mình. Nhờ đó, mỗi người luôn biết cộng tác vào kế hoạch của Thiên Chúa trên sứ vụ mục tử, cùng nhau cộng tác trong việc bảo vệ, nuôi dưỡng và phát triển đoàn chiên theo tinh thần nhân bản Ki-tô giáo…[8]
Chiêm niệm
Tin Mừng mạc khải cho chúng ta hình ảnh một Giuse hoàn toàn im lặng trong mọi biến cố. Tuy nhiên chính trong và qua sự thinh lặng ấy, chúng ta mới thấy Thánh Giuse quả thực là một con người của cầu nguyện, của chiêm niệm thẳm sâu, vì chỉ trong thinh lặng và cầu nguyện, ngài mới có thể gặp gỡ, lắng nghe được tiếng Chúa. Để từ đó, Thánh Giuse luôn mau mắn đón nhận kế hoạch của Thiên Chúa trong sự ngoan ngùy và thực thi kế hoạch của Ngài một cách trung tín và quyết liệt. Những hành động mau mắn “như lời Sứ thần” (x. Mt 1,24; 2, 14.19) của Thánh Cả không hề mang tính thụ động, cũng không kèm theo một sự bực dọc, khó chịu hay một thái độ nào của sự cưỡng bức, nhưng hoàn toàn tự do trong sự tỉnh thức và chủ động hoàn toàn, để rồi kế hoạch của Thiên Chúa được thành toàn cách viên mãn nhất.[9] Vượt lên tất cả cái sĩ diện thông thường, càng những lúc gặp thử thách, Thánh Cả Giuse càng cho thấy sức mạnh kì diệu của sự thinh lặng và cầu nguyện. Ngài chấp nhận đêm tối đức tin, nơi mà có lẽ có những lúc ngài cảm thấy Thiên Chúa im tiếng, cảm thấy cuộc đời bế tắc và mất phương hướng. Tuy nhiên, đêm tối đức tin của những người sống cầu nguyện không bao giờ chìm vào hư không.[10] Quả thật, nơi Thánh Giuse chúng ta cũng thấy sáng rạng hình ảnh người cắm rễ trong nguồn nước Lời Chúa, người sống trong tương giao không ngơi với Thiên Chúa. Vì thế cuộc sống của Thánh nhân luôn đơm bông kết trái không những được trình thuật qua biến cố cụ thể, nhưng chắc chắn còn được lặp đi lặp lại trong suốt cuộc đời Thánh Giuse. [11]
Là một mục tử trong thời đại số, với những cơn bão truyền thông, cùng vô vàn áp lực tứ phía, một mục tử không có đời sống thiêng liêng, gắn kết mật thiết với Chúa trong Lời Chúa, kinh nguyện, Thánh Lễ và nhất là chiêm niệm… chắc chắn sẽ gãy đổ trước những cơn sóng thần của thời đại. Vì thế, noi gương Thánh Giuse, các linh mục ngày nay dấn thân trong các lĩnh vực tông đồ, mục vụ khác nhau, là những lãnh vực đòi hỏi lòng quảng đại và sự tự hiến hoàn toàn khác nhau, một sự chuẩn bị trí thức kĩ càng, và nhất là một đời sống thiêng liêng trưởng thành sâu xa, bén rễ trong đức ái mục tử là điều tối cần thiết.
Hy vọng
Chiêm ngưỡng cuộc đời Thánh Giuse, chúng ta nhận thấy nơi Thánh nhân không chỉ là một người thinh lặng, một mục tử trung tín, một người chủ hiền hòa, kiên nhẫn… nhưng ngài còn cho các mục tử trong thế giới hôm nay mẫu gương về niềm hy vọng. Quả vậy, Tin Mừng cho chúng ta thấy khi tiếp xúc với Thiên Chúa trong chiêm niệm, cũng như với Chúa Giê-su, niềm hy vọng của Thánh Giuse trở nên siêu nhiên hơn.[12] Thánh nhân đã cho chúng ta tấm gương của một chân trời mở rộng của niềm hy vọng… Trong cuộc sống êm đềm, thậm chí khá mờ nhạt ở Nazareth, Thánh Giuse được thôi thúc bởi ước muốn không giới hạn. Để rồi, định mệnh của dân Do Thái và của toàn thể cộng đồng nhân loại, là đối tượng cốt yếu của niềm hy vọng của ngài…[13]
Niềm hy vọng là điều mà bất cứ ai trong chúng ta cũng cần để hiện hữu. Cách riêng, trong sứ vụ mục tử của mình, người mục tử phải là người gieo niềm hy vọng cho người khác. Nhưng trước hết chính mục tử phải là người có trong mình niềm hy vọng, bởi vì không có niềm hy vọng ơn gọi sẽ trở nên nhạt nhẽo và công việc mục vụ cũng sẽ gặp vô vàn khó khăn, thậm chí lịm tắt trong thất vọng và tuyệt vọng. Một mục tử không hy vọng là một mục tử chết yếu, bởi vì không có hy vọng, không biết đặt hy vọng nơi Chúa, chắc chắn mục tử không có niềm tin tưởng vào bất cứ ai, và hệ quả tất yếu là chẳng thể gieo niềm hy vọng nếu không nói là đập tan hy vọng, thậm chí cướp mất cả niềm hy vọng leo lét của đàn chiên. Chính vì thế, trong đời sống Giáo Hội giai đoạn hiện nay, với một bối cảnh ngày càng nặng mùi thế tục, sau khi mọi người được tái mời gọi nếp sống Ki-tô hữu bình thường ở mức độ cao của sự Thánh thiện, các linh mục được mời gọi sống tác vụ cách sâu xa như những chứng nhân của niềm hy vọng và sự siêu việt, lưu tâm đến những đòi hỏi mà họ phải đối mặt không chỉ trên bình diện mục vụ, mà cả xã hội và văn hóa nữa, khi mà những đòi hỏi này ngày càng nhiều, sâu xa và tế nhị. Tóm lại, Thánh Giuse cho chúng ta thấy tầm quan trọng của sự cộng tác mà chúng ta được kêu gọi cung cấp cho công trình của Chúa qua niềm hy vọng của chúng ta.[14]
Lược tả một vài đức tính trong nhiều nhân đức sáng ngời nơi Thánh Giuse, người viết thiết tưởng đó là những nhân đức cần thiết mà mỗi mục tử có thể học nơi Thánh nhân, cách đặc biệt trong sứ vụ mục tử ngang qua việc mục vụ nơi cộng đoàn, giáo xứ mà mình được giao phó coi sóc. Nhờ những đức tính này, Thánh Cả Giuse đã phác họa cách sống động nhất hình ảnh Ngôi Lời Nhập thể trong cuộc đời và sứ vụ của mình, thì người mục tử cũng có thể noi gương bắt chước để Ngôi Lời tiếp tục trở nên sống động và nên rõ nét cho con người và thế giới hôm nay. Nhờ đó, cũng như xưa Thánh Cả đã hết lòng bảo vệ Đức Ki-tô và mang Chúa đến cho mọi người, thì hôm nay mục tử qua việc mục vụ khôn ngoan và trung tín của mình, cũng không ngừng bảo vệ hình ảnh Thiên Chúa và Đức Ki-tô đang bị méo mó. Đồng thời, người mục tử sẽ trở thành những chứng nhân, những khí cụ hữu hiệu có thể mang đến cho thế giới đầy đau khổ này một Đức Ki-tô, một Giáo Hội luôn mở rộng để ôm ấp, yêu thương và mang cứu độ cho mọi người có thể làm thỏa mãn những khát vọng sâu thẳm nhất của con gười trong thế giới hôm nay…
Cf. Joshep Ratzinger, Đức Giê-su ở Nazareth, trọn bộ, Phạm Hồng Lam dịch, Nxb. Tôn giáo, tr. 741
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Tông thư Patris Corde, mục số 7
Cf. Joshep Ratzinger, Đức Giê-su ở Nazareth, trọn bộ, Phạm Hồng Lam dịch, Nxb. Tôn giáo, tr. 746
Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, Tông thư Patris Corde, mục số 7
Cf. Joshep Ratzinger, Đức Giê-su ở Nazareth, trọn bộ, Phạm Hồng Lam dịch, Nxb. Tôn giáo, tr. 742
Jean Galot, SJ., Thần học Thánh Giuse, Thiên Hựu và Kim Ngân chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông, tr. 165
Tác giả: Thất Nguyễn
Nguồn tin: Tạp chí Ra Khơi, số 33