Ngắm đứng và Cảm thức Đức tin

Thứ tư - 11/03/2026 09:19  26
Khởi đi từ một câu chuyện trong những ngày tết tại quê hương…

z7608754658775 029fa66822b374a47a16d5fb859492ffỞ cái tuổi 30, khi đang bận rộn và bộn bề với những suy nghĩ lưng chừng, tôi thường thấy mình dễ dàng bị chìm xuống và cuốn đi trong cái guồng quay mệt mỏi của cuộc sống hiện tại. Bất chợt, tôi thấy cần một khoảng lặng. Trong những ngày tết tại quê hương, ngồi lại trò chuyện bên thềm nhà thờ rêu phong cùng cụ trùm xứ đã ngoài chín mươi, một trong số ít những “cây đa cây đề” đã quyết định ở lại miền Bắc sau biến cố lịch sử 1954.
Nhìn bầu trời mưa phùn những ngày đầu xuân, tôi khẽ hỏi:
  •  Cụ ơi, ngày ấy người ta đi hết, các cha cũng đi. Đứng lại giữa một xóm đạo tan hoang, không người chăn dắt, điều gì đã giữ cho đức tin của cụ và những người ở lại không bị lụi tàn?
Cụ nhìn tôi, ánh mắt bình thản đi qua cuộc đời như một làn gió, không hề hận thù, không hề trách cứ thời cuộc. Cụ chậm rãi kể:
  • Cậu ạ, năm ấy, khi dòng người tấp nập rời đi, xứ đạo quê mình bỗng trở nên trống huơ trống hoác. Đứng giữa ngôi thánh đường lạnh lẽo, vắng bặt tiếng chuông và vắng cả bóng dáng các vị mục tử, những người ở lại như chúng tôi thấy mình quá đỗi nhỏ bé. Những kinh nghiệm ít ỏi ngày thường chẳng bao giờ đủ cho chúng tôi đứng vững trước sự hoang mang, sợ hãi. Chúng tôi cứ nghĩ mình sẽ bị nuốt chửng trong cái trống vắng ấy.
Cụ ngừng lại, lấy tay mân mê cuốn sách ngắm đã ố vàng, rồi nói tiếp:
  •  Nhưng cậu biết không, chúng tôi hiểu rằng mình không thể thay đổi được hướng gió của lịch sử, thế nên chúng tôi quyết định thay đổi cánh buồm của mình. Những đêm Tuần Thánh, giữa sự giám sát ngặt nghèo và cái nghèo đói bủa vây, những người nông dân ít ỏi còn sót lại vẫn lén thắp lên ngọn nến, đứng thẳng người cất cao cung Ngắm Đứng. Chúng tôi hát vãn cuộc Thương Khó không phải để khoe khoang hay làm hài lòng tất cả mọi người, mà ta sinh ra lúc ấy như chỉ để làm hài lòng duy mình Thiên Chúa mà thôi.
Tôi tò mò:
  • Những cung ngắm ấy có sức mạnh lớn thế sao cụ?
Cụ trả lời:
  • Lớn lắm chứ! Giữa cảnh tan hoang, khi không có Thánh Lễ để tham dự, tiếng ngắm lên bổng xuống trầm là thứ duy nhất kết nối chúng tôi lại. Chúng tôi mở rộng tấm lòng, gửi gắm sự bơ vơ, tủi phận của kiếp người ở lại vào chính những nhát đòn, những giọt máu của Chúa Giêsu trên Thập giá. Càng ngắm, tâm hồn lại càng cảm thấy thanh thản và bình an đến lạ. Thứ bình an ấy giúp chúng tôi kiên nhẫn bám rễ nơi đất mẹ, giữ lấy chút lòng son cho thế hệ sau này.
Cuộc trò chuyện kết thúc trong thinh lặng, nhưng lại mở ra trong tôi một chân trời hiểu biết mới. Những lời bộc bạch mộc mạc của người ở lại năm xưa không chỉ là hoài niệm, mà tự nó đã trở thành một bảo chứng đanh thép. Nó vạch ra một tiền đề rõ ràng để tôi bước vào sự suy tư. Đánh giá giá trị của Ngắm Đứng tại miền Bắc sau biến cố 1954 không thể chỉ là việc nhìn nhận một thói quen văn hóa. Hơn thế nữa, đó chính là chiếc mỏ neo của cảm thức đức tin, là cánh buồm giúp những phận người nhỏ bé lướt qua sự tan hoang của thời cuộc, để giữ cho ngọn lửa đạo hạnh không bao giờ tắt lịm giữa bóng đêm lịch sử.
***
Lịch sử Giáo hội Việt Nam tại miền Bắc sau biến cố 1954 từng trải qua những hẻm núi tối tăm, nơi sự đứt gãy của các cử hành bí tích và sự vắng bóng dằng dặc của các vị mục tử tưởng chừng sẽ bóp nghẹt nhịp đập đức tin. Trong một cái nhìn cơ cấu thuần túy, khi “nguồn cung” ơn thánh qua bàn tay linh mục bị phong tỏa, một cộng đoàn ắt sẽ dần khô héo và thui chột. Thế nhưng, mầu nhiệm cứu độ chưa bao giờ chịu giam mình trong những giới hạn hữu hình của thể chế. Chính ngay tại lằn ranh của sự đứt gãy ấy, Thánh Thần đã khơi lên một mạch nước ngầm kỳ diệu mang tên lòng đạo đức bình dân. Ở đó, Ngắm Đứng hiện diện như một minh chứng toàn vẹn về sức sống tự sinh của cảm thức đức tin[1].

Thay vì để tâm hồn chìm vào sự câm lặng trước sự khốc liệt của thời cuộc, người tín hữu đã chủ động mượn lấy chính những thanh âm nức nở, những nhịp điệu bi thương trong văn hóa vãn ca, tang tế của dân tộc để thêu dệt nên bức bích họa Thương Khó[2]. Ngắm Đứng, trong những đêm đen lịch sử, không hề là một giải pháp thay thế tạm bợ cho sự thiếu hụt nhân sự. Trái lại, nó vươn mình trở thành một không gian thần học đích thực[3]. Tại những miền quê nghèo, những con người mang trên mình lớp bùn đất của sự nhọc nhằn, chịu nhiều vùi dập của thời cuộc, đã mượn cung ngắm để họa lại cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Độ. Họ không chạm vào Thập giá bằng những khái niệm kinh viện xa xôi, mà bằng chính sự bầm dập của phận người[4]. Giữa lúc không có bàn tay mục tử xức dầu, chính những giọt nước mắt và lời kinh than vãn lại hóa thành phương dược chữa lành, khâu lại những vết thương xé rách của thời đại, và đan kết những mảnh đời người tín hữu bơ vơ thành một gia đình máu mủ của ân sủng[5].

Sức mạnh của mạch ngầm ấy không hề bị bốc hơi khi bước vào kỷ nguyên ánh sáng. Cho đến tận hôm nay, di sản thiêng liêng ấy vẫn đang thổn thức mãnh liệt tại các giáo phận như Bùi Chu và Thái Bình… Giữa một thời đại mà vạn vật dễ dàng bị cuốn vào guồng quay của tính hiệu quả, nơi con người thường định giá nhau qua thước đo của vật chất và danh vọng, việc hàng ngàn giáo dân vẫn tề tựu trong những buổi ngắm nguyện trong mùa Chay Thánh, đặc biệt là  những đêm Tuần Thánh để cất lên cung ngắm cổ kính là một cuộc ngược dòng vĩ đại.

Đứng trước ngọn nến le lói của vạn ngắm, ranh giới giàu nghèo, sang hèn bị xóa nhòa hoàn toàn; lột bỏ mọi lớp mặt nạ xã hội, ở đó chỉ còn lại những tâm hồn nguyên sơ đang trực diện đối thoại với Tình Yêu tự hiến. Lời ngắm lúc này không chỉ là sự hoài niệm quá khứ, mà là một hành vi tuyên xưng mang đậm tính hội nhập, làm bật lên phẩm giá rạng ngời của những kẻ bé mọn[6]. Sự kiên vững của họ không đến từ những lý luận sắc bén, mà từ một kinh nghiệm gặp gỡ thẳm sâu, nơi nỗi đau nhân loại được thăng hoa khi tháp nhập vào mầu nhiệm Vượt Qua[7].

Chính vì thế, Giáo hội không ngừng mời gọi tín hữu trân trọng và khơi nguồn những biểu thức đạo đức bình dân này[8], bởi chúng bảo vệ người tín hữu khỏi thứ “virus” của sự vô cảm, đồng thời chuẩn bị một mảnh đất màu mỡ để hạt giống Phụng vụ đâm chồi[9]. Qua truyền thống Ngắm Đứng, chúng ta nhận ra một chân lý rạng ngời: Ân sủng của Thiên Chúa luôn biết cách xuyên thủng mọi bức tường phong tỏa của nghịch cảnh, mượn chính những thanh âm mộc mạc nhất của trần thế để tấu lên bản hùng ca bất diệt của lòng xót thương[10]. Qua đó, đức tin làm phong phú nền văn hóa và ngược lại, văn hóa giúp diễn tả đức tin một cách rạng rỡ.
 

[1] Công đồng Vatican II, Hiến chế Tín lý Lumen Gentium, số 12
[2] Bộ Phụng Tự và Kỷ luật Bí tích, Hướng dẫn về Lòng đạo đức bình dân và Phụng vụ (2001), số 64
[3] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 126
[4] Đức Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 48
[5] Đức Phaolô VI, Tông huấn Evangelii Nuntiandi, số 48
[6] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 122
[7] Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est, số 14
[8] Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 1674
[9] Công đồng Vatican II, Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 13
[10]Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Ecclesia in Asia, số 22

Tác giả: Đức Hữu

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây