Giáo lý viên sống Lời Chúa và Thánh Thể

Thứ tư - 04/02/2026 03:24  19
GIÁO LÝ VIÊN SỐNG LỜI CHÚA VÀ THÁNH THỂ
TRONG GIAI ĐIỆU NGHỊCH LÝ CỦA TÌNH YÊU

Diễn ngôn thực dụng và huyền nhiệm hiện sinh nơi mầu nhiệm tự hủy

Đối với ngành sư phạm huấn giáo đương đại, có một thách đố căn bản nảy sinh từ sự thống trị của tư duy định lượng và chủ nghĩa thực chứng. Con người ngày nay hình như đang có xu hướng cấu trúc hóa niềm tin thành những mệnh đề luận lý. Hệ quả là họ biến mầu nhiệm cứu độ thành một hệ thống tri thức có thể cân đong đo đếm. Đối với giới trẻ, những chủ thể đang đứng trước ngã ba đường của việc tôn thờ cái tôi và sự hoài nghi các giá trị định chế, việc biến đức tin thành một hệ thống dữ liệu định tính là một sai lầm về phương pháp luận. Sự thiếu vắng hơi thở của huyền nhiệm sẽ biến giáo lý thành một gánh nặng của trí năng, khiến họ rơi vào trạng thái rỗng tuếch của sự chán chường, từ đó dẫn đến một cuộc đào thoát tất yếu khỏi thực tại thiêng liêng.

Chính vì lẽ ấy, nhiệm vụ của những người đang chăm lo cho công cuộc huấn giáo, trong đó có Giáo lý viên, không phải là chuyển tải một hệ thống giáo điều, mà là khơi mào một “cuộc gặp gỡ”. Trong bản chất sâu xa nhất của mình, Giáo hội không phải là một tổ chức điều hành xã hội, mà là một câu chuyện tình yêu khởi sự từ trái tim Thiên Chúa
[1]. Chính lẽ ấy, các Giáo lý viên phải thực hiện một cuộc hoán cải về phương pháp luận: khước từ sự chắc chắn tuyệt đối mang tính duy lý để bước vào nhịp bước của sự phó thác huyền nhiệm. Chân lý ở đây không phải là một vật sở hữu để ban phát, mà là một Ngôi Vị để kết hiệp[2].

Trung tâm của căn tính Kitô giáo là một nghịch lý đầy uy quyền: sự sống chỉ nảy sinh từ sự tự nguyện trở nên hư nát. Khái niệm Kenosis không phải là một phạm trù đạo đức học hời hợt, mà là một thực tại căn bản giúp xây dựng nên định nghĩa cho sự hiện hữu của người chăm lo cho công cuộc huấn giáo. Để cho Lời được lớn lên, giáo lý viên phải trải qua tiến trình tự trào, tức là sự trút bỏ vinh quang riêng và những tham vọng khẳng định bản thân. Tình yêu thực sự vượt thắng được cái tôi ích kỷ, một cái tôi vốn muốn tự mình hoàn tất đời mình như một thứ “thần thánh tự phong” thông qua việc tự khẳng định thiện ác theo chuẩn mực cá nhân
[3].

Sống nghịch lý này đòi hỏi một thái độ sống “sát mặt đất”. Điều này đồng nghĩa với việc khước từ mọi hình thái của sự xa cách kiểu đạo mạo hay một lối sống kiểu “thượng lưu” trong đời sống đức tin. Điều ấy có nghĩa là khi người huấn giáo chấp nhận mất mình trong việc phục vụ, chấp nhận những thua thiệt về thời gian, sức lực và danh dự để liên lụy với nỗi đau của tha nhân, họ không trở nên nghèo nàn đi
[4]. Ngược lại, chính trong sự nhỏ đi của cái tôi, sức sống của Đấng Phục Sinh mới có thể ứa tràn một cách sung mãn nhất.

Lời Chúa và Thánh Thể: định vị ý nghĩa và biểu lộ quyền năng của tình yêu

Giáo lý viên thực thi chức năng ngôn sứ không phải bằng việc tiên báo tương lai, mà bằng khả năng giúp người khác giải mã lịch sử trần thế dưới nhãn quan đức tin. Lời Chúa không được coi là một công cụ hỗ trợ cho việc thuyết giảng, mà là một thực tại bản thể luận cần được ăn và thẩm thấu vào máu thịt của chủ thể
[5]. Ấy chính là một tiến trình nội tâm hóa, nơi Lời Chúa trở thành nguyên lý vận hành cho mọi suy nghĩ. Sống căn tính ngôn sứ là chấp nhận để Lời Chúa thực hiện cuộc “hóa giải giải cấu trúc” trên những định kiến của chính mình. Giáo lý viên không xuất hiện để đưa ra những mệnh đề áp đặt theo kiểu Giáo hội bảo thế, mà trình bày Lời như một thực tại giải thoát, có khả năng nối kết lại những tương quan đã đổ vỡ[6]. Trong một thế giới đang bị vây hãm bởi chủ nghĩa hư vô và sự vô nghĩa của sự chết, những người lo công việc huấn giáo là người nhìn vào sự vô cảm của lịch sử hiện tại và tuyên sấm về sự phục sinh của tình nghĩa. Khi Lời Chúa thấm vào cuộc đời, Giáo lý viên sẽ có phương thế để  giúp người trẻ nhận ra rằng cuộc đời họ không phải là một chuỗi ngẫu nhiên vô nghĩa mà là một chương quan trọng trong một cuốn sách lịch sử ơn cứu độ.

Nếu Lời Chúa là ánh sáng định vị ý nghĩa, thì Thánh Thể là năng quyền thực chứng cho hành động tình yêu. Ý nghĩa thực sự của việc cử hành Thánh Thể không hệ tại ở sự hoành tráng của nghi thức ngoại tại, mà ở việc bản thân Giáo lý viên biết biến mình thành một “tấm bánh bị bẻ ra” cho cuộc đời
[7]. Đây chính là cao điểm của nghịch lý tự hủy: Giáo lý viên chấp nhận bị tiêu hao để nuôi dưỡng đức tin cho người trẻ. Sự bẻ ra này là một hiến tế phi máu đào, nơi sự thờ phượng và phục vụ không còn là hai cực tách biệt mà hòa quyện làm một. Người trẻ vốn đầy hoài nghi sẽ nhận diện được khuôn mặt của Thiên Chúa thông qua một cuộc đời dám bị bẻ ra vì họ[8]. Khi Giáo lý viên biết yêu mến Thánh Thể, họ sẽ có khả năng yêu thương bằng một sự ứa tràn của ân sủng, yêu thương bằng một tình yêu dám thua thiệt để đem lại sự an hòa cho kẻ khác, vượt trên mọi nguyên tắc công bằng sòng phẳng của thế gian.

Cảm thức “mắc nợ” và niềm hi vọng vĩnh cửu

Giáo lý viên khi chìm sâu vào mầu nhiệm Lời và Thánh Thể, sẽ nhận ra mình đang sống trong một tình trạng “mắc nợ nghĩa tình” vô biên đối với Đấng Sáng Tạo. Đây là một sự đảo ngược vĩ đại: con người chỉ đạt đến đỉnh cao của tự do khi thoát khỏi ảo tưởng về sự tự trị tuyệt đối để thừa nhận mình cần đến Thiên Chúa. Tình yêu này không mang tính sòng phẳng, mà mang tính thặng dư. Khi giáo lý viên giúp người trẻ thoát khỏi cái tôi ái kỷ, cái tôi muốn tự mình trở nên thần thánh, họ sẽ dẫn đưa các em vào cuộc phiêu lưu của tình nghĩa. Khi khám phá ra tình yêu tuyệt đối của Đấng Tạo Hóa, rào cản giữa giáo lý viên và học viên sẽ bị xóa tan, biến không gian lớp học giáo lý trở thành một cộng đoàn của những người cùng được yêu thương và cùng được tha thứ. Sự an hòa lúc này là một trạng thái nội tâm bền vững, được nuôi dưỡng bởi niềm xác tín vào nét đẹp Nước Trời đang hiển hiện mẫu nhiệm ngay giữa lòng thực tại trần gian
[9].

Hơn nữa, sứ vụ của Giáo lý viên không kết thúc ở lớp học, mà hướng tới sự viên mãn của Nước Thiên Chúa. Tình yêu Thiên Chúa là tình yêu ứa tràn trong sự sáng tạo, cứu độ và sẽ đạt đến sự sung mãn nhất trong ngày Quang Lâm. Giáo lý viên sống trong niềm hy vọng này không coi những thất bại mục vụ là dấu chấm hết, nhưng là chất liệu của sự thanh luyện. Ngày họp mặt tuyệt vời nhất, lớp học giáo lý tuyệt vời nhất là nơi mà mọi kỷ niệm vui buồn, mọi sự tự hủy thầm lặng sẽ được trình diện trước Đấng Phục Sinh.
 

[1] Đức Thánh Cha Phanxicô, Bài giảng tại Nhà Thánh Martha, ngày 24.04.2013, bản dịch của người viết.
x. https://www.vatican.va/content/francesco/en/cotidie/2013/documents/papa-francesco-cotidie_20130424_church-mother.html
[2] Thánh Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae, số 5.
[3] Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas Est, số 7.
[4] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông huấn Evangelii Gaudium, số 24.
[5] Thánh bộ Giáo sĩ, Hướng dẫn dạy Giáo lý (2020), số 154.
[6] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Dei Verbum, số 21.
[7] Thánh Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, số 20.
[8] Đức Thánh Cha Phanxicô, Tông thư Desiderio Desideravi, số 20.
[9] Công Đồng Vatican II, Hiến chế Gaudium et Spes, số 39.

Tác giả: Đức Hữu

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây