Tuyên bố “Dignitas Infinita” về Phẩm Giá Con Người (phần 1,2)

Thứ ba - 09/04/2024 20:10  772
Tuyên bố của Bộ Giáo lý Đức tin “Dignitas Infinita”
về Phẩm giá Con người, 08.04.2024
 
Trình Bày
 
Trong Đại hội ngày 15 tháng 3 năm 2019, Thánh Bộ Giáo lý Đức tin khi đó đã quyết định bắt đầu “soạn thảo một văn bản nêu bật tính chất không thể thiếu của phẩm giá con người trong nhân học Kitô giáo và minh họa tầm quan trọng và các hàm ý hữu ích của khái niệm này trong trên các lĩnh vực xã hội, chính trị và kinh tế - đồng thời cũng tính đến những phát triển mới nhất về chủ đề này trong giới học thuật và những cách hiểu khác nhau về khái niệm này ngày nay". Một bản thảo đầu tiên của văn bản đã được chuẩn bị với sự giúp đỡ của một số chuyên gia vào năm 2019, nhưng một cuộc Tham vấn Consulta Ristretta của Thánh Bộ, được triệu tập vào ngày 8 tháng 10 cùng năm, cho rằng bản thảo này không đạt yêu cầu.

Sau đó, Văn phòng Giáo lý đã chuẩn bị thêm một dự thảo mới, dựa trên sự đóng góp của nhiều chuyên gia khác nhau, đã được trình bày và thảo luận trong một Đợt Tham Vấn Consulta Ristretta được tổ chức vào ngày 4 tháng 10 năm 2021. Vào tháng 1 năm 2022, dự thảo mới đã được trình bày trong Phiên họp toàn thể của Thánh bộ, trong đó các Thành viên đã thực hiện các bước để rút ngắn và đơn giản hóa văn bản.

Sau đó, vào ngày 6 tháng 2 năm 2023, phiên bản sửa đổi của dự thảo mới đã được một Ủy Ban Tham Vấn xem xét, cơ quan này đã đề xuất một số sửa đổi bổ sung. Một phiên bản cập nhật đã được đệ trình để các Thành viên xem xét trong Phiên họp thường vụ của Thánh Bộ (Feria IV) vào ngày 3 tháng 5 năm 2023, tại đó các Thành viên đã đồng ý rằng tài liệu, với một số điều chỉnh, có thể được xuất bản. Sau đó, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã phê duyệt các nghị quyết của phiên họp đó trong Cuộc Tiếp Kiến dành cho tôi vào ngày 13 tháng 11 năm 2023. Nhân dịp này, ngài cũng yêu cầu tài liệu nêu bật các chủ đề liên quan chặt chẽ đến chủ đề phẩm giá, chẳng hạn như nghèo đói, tình trạng của người di cư, bạo lực đối với phụ nữ, nạn buôn người, chiến tranh và các chủ đề khác. Để thực hiện những chỉ dẫn của Đức Thánh Cha, Ban Giáo lý của Thánh Bộ đã dành một Congresso để nghiên cứu chuyên sâu về Thông điệp Fratelli Tutti, trong đó đưa ra một phân tích độc đáo và xem xét thêm về chủ đề phẩm giá con người “vượt trên mọi hoàn cảnh.”

Vào ngày 2 tháng 2 năm 2024, một phiên bản mới và được sửa đổi đáng kể của văn bản này đã được gửi đến các Thành viên của Thánh Bộ trước Phiên họp thường vụ (Feria IV) vào ngày 28 tháng 2 năm 2024. Bức thư đi kèm dự thảo bao gồm nội dung làm rõ sau đây: “Bản thảo bổ sung này là cần thiết để đáp ứng một yêu cầu cụ thể của Đức Thánh Cha: cụ thể, ngài đã kêu gọi rõ ràng rằng hãy chú ý nhiều hơn đến những vi phạm nghiêm trọng phẩm giá con người trong thời đại chúng ta, đặc biệt là dưới ánh sáng của Thông điệp Fratelli Tutti. Với điều này, Văn phòng Giáo lý đã thực hiện các bước để giảm phần ban đầu […] và phát triển chi tiết hơn những gì Đức Thánh Cha đã chỉ ra. ” Bản văn của Tuyên ngôn hiện tại cuối cùng đã được phê duyệt trong phiên họp Feria IV nêu trên vào ngày 28 tháng 2 năm 2024. Sau đó, trong buổi Tiếp kiến dành cho tôi và cho Đức Ông Armando Matteo, Bí thư Ban Giáo lý, vào ngày 25 tháng 3 năm 2024, Đức Thánh Cha đã chấp thuận Tuyên ngôn này và ra lệnh cho công bố.

Quá trình chuẩn bị văn bản kéo dài 5 năm giúp chúng ta hiểu rằng tài liệu trước mắt phản ánh tầm quan trọng và tính trung tâm của chủ đề phẩm giá trong tư tưởng Kitô giáo. Văn bản đòi hỏi một quá trình trưởng thành đáng kể để đi đến phiên bản cuối cùng mà chúng tôi xuất bản hôm nay.

Trong ba phần đầu tiên, Tuyên bố nhắc lại các nguyên tắc cơ bản và các tiền đề lý thuyết, với mục tiêu đưa ra những làm rõ quan trọng có thể giúp tránh sự nhầm lẫn thường xuyên xung quanh việc sử dụng thuật ngữ “phẩm giá”. Phần thứ tư trình bày một số tình huống hiện tại và có vấn đề, trong đó phẩm giá to lớn và bất khả nhượng đối với mọi người không được công nhận đầy đủ. Giáo Hội coi việc lên án những vi phạm nghiêm trọng và hiện tại đối với phẩm giá con người là một biện pháp cần thiết, vì Giáo Hội duy trì niềm tin sâu sắc rằng chúng ta không thể tách rời đức tin với việc bảo vệ phẩm giá con người, truyền giáo khỏi việc thúc đẩy một cuộc sống có phẩm giá, và đời sống thiêng liêng khỏi sự cam kết đối với phẩm giá của mọi người.

Phẩm giá của mỗi con người có thể được hiểu là “vô hạn” (dignitas infinita), như ĐTC Gioan Phaolô II đã khẳng định trong một cuộc họp cho những người sống với những hạn chế hoặc khuyết tật khác nhau. [1]  Ngài nói điều này để cho thấy phẩm giá con người vượt lên trên mọi vẻ bề ngoài và những khía cạnh cụ thể trong cuộc sống của con người.

Trong Thông điệp Fratelli Tutti, ĐTC Phanxicô muốn nhấn mạnh rằng phẩm giá này tồn tại “vượt trên mọi hoàn cảnh”. Với điều này, ngài đã kêu gọi tất cả mọi người bảo vệ phẩm giá con người trong mọi bối cảnh văn hóa và mọi thời điểm của sự tồn tại của con người, bất kể những khiếm khuyết về thể chất, tâm lý, xã hội, hay thậm chí là đạo đức. Tuyên ngôn cố gắng chỉ ra rằng đây là một sự thật phổ quát mà tất cả chúng ta đều được kêu gọi để công nhận như một điều kiện cơ bản để các xã hội của chúng ta trở nên thực sự công bằng, hòa bình, lành mạnh và xứng đáng là con người.

Mặc dù không toàn diện, các chủ đề được thảo luận trong Tuyên ngôn này được lựa chọn để làm sáng tỏ các khía cạnh khác nhau của phẩm giá con người có thể bị lu mờ trong ý thức của nhiều người.  Một số chủ đề có thể gây được tiếng vang ở một số tầng lớp xã hội hơn những tầng lớp khác. Tuy nhiên, tất cả đều gây ấn tượng đối với chúng tôi như là điều cần thiết bởi vì, khi được kết hợp với nhau, chúng giúp chúng ta nhận ra sự hài hòa và phong phú của tư tưởng về phẩm giá con người bắt nguồn từ Tin Mừng.

Tuyên ngôn không nhằm mục đích trình bày trọn vẹn một chủ đề phong phú và quan trọng như vậy. Thay vào đó, mục đích của nó là đưa ra một số điểm để suy ngẫm có thể giúp chúng ta duy trì nhận thức về phẩm giá con người giữa thời khắc lịch sử phức tạp mà chúng ta đang sống. Điều này để chúng ta không lạc lối và mở lòng mình ra với nhiều vết thương và đau khổ sâu sắc hơn giữa vô vàn lo lắng và lo âu của thời đại.

ĐHY Víctor Manuel Fernández
Tổng trưởng
Giới Thiệu
 
  1. (Dignitas infinita) Mỗi con người đều sở hữu phẩm giá vô hạn, được đặt nền tảng bất khả xâm phạm trong chính bản thể của họ, phẩm giá này vượt lên trên và vượt qua mọi hoàn cảnh, tình trạng hoặc tình huống mà người đó có thể gặp phải. Nguyên tắc này, hoàn toàn có thể nhận ra ngay cả chỉ bằng lý trí, là nền tảng cho sự ưu tiên của con người và việc bảo vệ quyền con người. Dưới ánh sáng của Mặc khải, Giáo hội kiên quyết nhắc lại và khẳng định phẩm giá bản thể của con người, được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, được cứu chuộc trong Chúa Giê-su Ki-tô. Từ chân lý này, Giáo hội rút ra lý do cho cam kết của mình đối với những người yếu thế và những người kém quyền lực hơn, luôn nhấn mạnh “sự ưu tiên dành cho con người và bảo vệ phẩm giá của họ vượt lên trên mọi hoàn cảnh.” [2]
 
  1. Phẩm giá bản thể này cùng giá trị độc đáo và cao quý của mỗi người đàn ông và phụ nữ trên thế giới đã được tái khẳng định một cách đầy uy quyền trong Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, do Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ban hành vào ngày 10 tháng 12 năm 1948. [3] Khi chúng ta kỷ niệm 75 năm ngày ra đời của văn kiện đó, Giáo hội thấy đây là cơ hội để tuyên bố lại niềm tin của mình rằng tất cả mọi người — được Thiên Chúa tạo dựng và được cứu chuộc bởi Đức Ki-tô — phải được công nhận và được đối xử với sự tôn trọng và tình yêu thương xứng đáng với phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Lễ kỷ niệm này cũng tạo cơ hội cho Giáo hội làm rõ một số quan niệm sai lầm thường gặp liên quan đến phẩm giá con người và đề cập đến một số vấn đề liên quan nghiêm trọng và cấp bách.
 
  1. Ngay từ khi bắt đầu sứ mệnh của mình và được Tin Mừng thúc đẩy, Giáo hội đã nỗ lực để khẳng định tự do của con người và thúc đẩy quyền lợi của tất cả mọi người. [4] Trong thời gian gần đây, nhờ tiếng nói của các Đức Giáo hoàng, Giáo hội đã có nỗ lực  hình thành cam kết này một cách rõ ràng hơn thông qua lời kêu gọi đổi mới việc công nhận phẩm giá cơ bản vốn có trong mỗi người. Về điểm này, Thánh Giáo hoàng Phaolô VI khẳng định rằng “không có quan điểm nhân học nào sánh bằng quan điểm của Giáo hội về con người — đặc biệt là về tính độc đáo, phẩm giá, tính bất khả xâm phạm và sự phong phú của các quyền cơ bản của người đó, sự thiêng liêng, khả năng giáo dục, khát vọng phát triển toàn diện, và sự bất tử.” [5]
 
  1. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, trong Hội nghị Chung Lần thứ Ba của các Giám mục Châu Mỹ Latinh và Caribê ở Puebla năm 1979, đã khẳng định rằng phẩm giá con người là “một giá trị Tin Mừng không thể bị khinh thường mà không xúc phạm nặng nề đến Đấng Tạo Hóa. Phẩm giá này bị vi phạm ở cấp độ cá nhân khi không được coi trọng các giá trị như tự do, quyền được tuyên xưng tôn giáo của mình, sự toàn vẹn về thể chất và tinh thần, quyền được hưởng các nhu yếu phẩm thiết yếu, quyền được sự sống. Nó bị vi phạm ở cấp độ xã hội và chính trị khi con người không thể thực hiện quyền tham gia của mình, hoặc khi họ phải chịu sự cưỡng bức bất công và phi pháp, hoặc phải chịu tra tấn thể xác hoặc tinh thần, v.v. […] Nếu Giáo hội hiện diện trong việc bảo vệ, hoặc thúc đẩy phẩm giá con người, thì Giáo Hội thực hiện điều đó phù hợp với sứ mệnh của mình, mặc dù nó mang tính tôn giáo chứ không phải xã hội hay chính trị, nhưng không thể bỏ qua việc xem xét con người trong toàn bộ bản thể của họ.” [6]
 
  1. Sau đó, vào năm 2010, phát biểu tại Học viện Giáo hoàng về Sự sống, Đức Giáo hoàng Biển Đức XVI tuyên bố rằng phẩm giá con người là “một nguyên tắc nền tảng mà đức tin nơi Chúa Giê-su Ki-tô chịu đóng đinh và sống lại đã luôn bảo vệ, đặc biệt là khi, đối với những người đơn sơ và không có khả năng tự vệ nhất, nó bị coi thường.” [7] Vào một dịp khác, khi nói chuyện với các nhà kinh tế học, ngài tuyên bố rằng “kinh tế và tài chính không tồn tại vì lợi ích của chính chúng; chúng chỉ là một công cụ hoặc phương tiện. Mục đích duy nhất của chúng là con người và sự viên mãn toàn diện của con người trong phẩm giá. Đây là nguồn vốn duy nhất, và cần phải bảo vệ [nó].” [8]
 
  1. Ngay từ đầu triều đại giáo hoàng của mình, Đức Phanxicô đã mời gọi Giáo hội “tin vào một người Cha, Đấng yêu thương tất cả mọi người với một tình yêu vô hạn, nhận ra rằng “Ngài đã ban cho họ một phẩm giá vô hạn”. [9] Ngài mạnh mẽ nhấn mạnh rằng phẩm giá to lớn như vậy là một yếu tố khởi nguyên (điều đã được ban cho) cần được thừa nhận một cách trung thành và được đón nhận với lòng biết ơn. Dựa trên sự nhìn nhận và chấp nhận phẩm giá con người này, một sự đồng hành mới giữa mọi người có thể được thiết lập, phát triển các mối quan hệ xã hội trong bối cảnh tình huynh đệ thực sự. Thật vậy, chỉ bằng cách “thừa nhận phẩm giá của mỗi con người”, chúng ta mới “đóng góp vào sự tái sinh của một khát vọng phổ quát về tình huynh đệ.” [10] Đức Phanxicô khẳng định rằng “nguồn gốc của nhân phẩm và tình huynh đệ là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô,” [11] nhưng ngay cả lý trí của con người cũng có thể đi đến niềm tin này thông qua suy tư và đối thoại vì “phẩm giá của người khác phải được tôn trọng trong mọi hoàn cảnh, không phải vì phẩm giá đó là thứ chúng ta phát minh hoặc tưởng tượng, mà bởi vì con người sở hữu một giá trị nội tại vượt trội hơn các đối tượng vật chất và các tình huống phụ thuộc. Điều này đòi hỏi họ phải được đối xử khác biệt. Rằng mọi người đều sở hữu phẩm giá bất khả xâm phạm là một chân lý tương ứng với bản chất con người ngoài mọi sự thay đổi văn hóa." [12] Đức Phanxicô kết luận, “con người có cùng phẩm giá bất khả xâm phạm trong mọi thời đại của lịch sử, và không ai có thể tự cho mình là người được phép vì những tình huống cụ thể mà phủ nhận niềm tin này hoặc hành động chống lại nó. ” [13] Xét từ góc độ này, thông điệp Fratelli Tutti của Đức Giáo hoàng Phanxicô, tạo thành một loại “Magna Carta” (giải thích của người dịch: Magna Carta- Hiến chương vĩ đại) về các nhiệm vụ đương thời của chúng ta nhằm bảo vệ và thúc đẩy phẩm giá con người.

Một sự phân biệt cơ bản
  1. Ngày nay, nhiều người đồng ý về tầm quan trọng và phạm vi quy chuẩn của phẩm giá con người cũng như giá trị độc đáo và siêu việt của mỗi con người. [14] Tuy nhiên, cụm từ "phẩm giá của con người" có nguy cơ bị hiểu theo nhiều cách khác nhau, dẫn đến những những sự mơ hồ tiềm ẩn [15] và "những mâu thuẫn khiến chúng ta tự hỏi liệu phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người […] có thực sự được công nhận, tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy trong mọi tình huống hay không." [16] Điều này khiến chúng ta nhận ra khả năng phân biệt bốn khía cạnh của khái niệm phẩm giá: phẩm giá bản thể, phẩm giá đạo đức, phẩm giá xã hội và phẩm giá hiện sinh. Quan trọng nhất trong số này là phẩm giá bản thể thuộc về một con người chỉ đơn giản vì người đó tồn tại và được Thiên Chúa mong muốn, tạo dựng và yêu thương. Phẩm giá bản thể là không thể xóa nhòa và luôn có giá trị vượt lên trên mọi hoàn cảnh mà con người có thể gặp phải. Khi nói về phẩm giá đạo đức, chúng ta đề cập đến cách con người thực hiện quyền tự do của mình. Mặc dù con người được phú cho lương tâm, nhưng họ luôn có thể hành động trái lại với nó. Tuy nhiên, làm như vậy, họ sẽ hành xử theo cách “không xứng đáng” đối với bản chất của mình là những tạo vật được Thiên Chúa yêu thương và được kêu gọi để yêu thương người khác. Tuy nhiên, khả năng này luôn tồn tại đối với quyền tự do của con người, và lịch sử minh họa cách các cá nhân — khi thực thi tự do của họ chống lại luật yêu thương được mặc khải bởi Tin Mừng — có thể thực hiện những hành vi tội ác vô cùng nghiêm trọng chống lại người khác. Những người hành động theo cách này dường như đã đánh mất mọi dấu vết của nhân tính và phẩm giá. Đây là nơi mà sự phân biệt hiện tại có thể giúp chúng ta phân biệt giữa phẩm giá đạo đức trên thực tế có thể bị “mất đi” và phẩm giá bản thể không bao giờ có thể bị hủy bỏ. Và chính vì điểm thứ hai này mà chúng ta phải làm việc hết sức mình để tất cả những ai đã làm điều ác đều có thể ăn năn và hoán cải.
 
  1. Còn hai khía cạnh khác của phẩm giá cần xem xét: xã hội và hiện sinh. Khi nói về phẩm giá xã hội, chúng ta đề cập đến chất lượng điều kiện sống của một người. Ví dụ, trong các trường hợp nghèo đói cùng cực, khi các cá nhân thậm chí không có những thứ tối thiểu cần thiết để sống theo phẩm giá bản thể của họ, người ta nói rằng những người nghèo đó đang sống trong một hoàn cảnh “không xứng đáng.” Cách diễn đạt này không ngụ ý phán xét những cá nhân đó nhưng nêu bật tình trạng mà họ buộc phải sống mâu thuẫn với phẩm giá bất khả xâm phạm của họ. Ý nghĩa cuối cùng là phẩm giá hiện sinh, đây là loại phẩm giá được ngụ ý trong cuộc thảo luận ngày càng tăng về cuộc sống “xứng đáng” và một cuộc sống “không xứng đáng”. Ví dụ, trong khi một số người dường như không thiếu bất cứ điều gì cần thiết cho cuộc sống, nhưng vì nhiều lý do, họ vẫn có thể phải vật lộn để sống với sự bình an, niềm vui và hy vọng. Trong các tình huống khác, sự hiện diện của các bệnh hiểm nghèo, môi trường gia đình bạo lực, các chứng nghiện ngập và các khó khăn khác có thể khiến mọi người cảm nhận điều kiện sống của họ “không xứng đáng” so với nhận thức của họ về phẩm giá bản thể không bao giờ có thể bị che khuất. Những sự phân biệt này nhắc nhở chúng ta về giá trị bất khả xâm phạm của phẩm giá bản thể có gốc rễ trong chính bản thể của con người trong mọi hoàn cảnh.
 
  1. Cuối cùng, cần đề cập đến định nghĩa cổ điển về một nhân vị như một “bản thể cá thể có bản tính lý tính” [17] làm rõ ràng nền tảng của phẩm giá con người. Là một “bản thể cá nhân”, con người sở hữu phẩm giá bản thể (tức là ở cấp độ siêu hình của chính sự hiện hữu). Đã nhận được sự tồn tại từ Thiên Chúa, con người là những chủ thể "tồn tại độc lập" - nghĩa là họ thực hiện sự hiện hữu của mình một cách tự chủ. Thuật ngữ "lý tính" bao gồm tất cả các năng lực của con người, bao gồm năng lực biết và hiểu, cũng như năng lực muốn, yêu, chọn và khát khao; nó cũng bao gồm tất cả các chức năng của cơ thể có liên quan mật thiết đến các năng lực này. "Bản tính" đề cập đến các điều kiện đặc biệt đối với chúng ta với tư cách là con người, cho phép các hoạt động khác nhau của chúng ta và những trải nghiệm đặc trưng cho chúng; Theo nghĩa này, bản tính là “nguyên lý hành động”. Chúng ta không tạo ra bản tính của mình; chúng ta giữ nó như một món quà và chúng ta có thể nuôi dưỡng, phát triển và nâng cao khả năng của mình. Bằng cách thực thi tự do để trau dồi các giá trị của bản tính, chúng ta sẽ phát triển theo thời gian. Ngay cả khi một người không thể thực thi các năng lực này do các hạn chế hoặc điều kiện khác nhau, tuy nhiên người đó vẫn luôn tồn tại như một “bản thể cá nhân” với phẩm giá toàn vẹn và bất khả xâm phạm. Điều này áp dụng, chẳng hạn, đối với một đứa trẻ chưa sinh ra, một người bất tỉnh hoặc một người già đau khổ
 
1. Nhận thức ngày càng cao về tính trọng tâm của nhân phẩm
 
  1. Ngay từ thời cổ đại,[18] trực giác về phẩm giá con người đã nảy sinh từ góc độ xã hội, coi mỗi người được trao một phẩm giá đặc biệt dựa trên cấp bậc và địa vị của họ trong một trật tự đã được thiết lập. Bắt nguồn từ phạm vi xã hội, từ “phẩm giá” sau đó được sử dụng để mô tả phẩm giá khác biệt của các sinh vật trong vũ trụ. Theo quan điểm này, tất cả sinh vật đều sở hữu “phẩm giá” riêng theo vị trí của chúng trong sự hài hòa của toàn thể. Một số tư tưởng vĩ đại của thời cổ đại đã bắt đầu thừa nhận một vị trí độc đáo của con người là những sinh vật được ban cho lý trí, có thể chịu trách nhiệm cho bản thân và những người khác trên thế giới. [19] Tuy nhiên, một cách suy nghĩ có thể đặt nền tảng cho sự tôn trọng phẩm giá của mọi con người trong mọi hoàn cảnh vẫn còn là một chặng đường dài.
Những Quan Điểm Trong Kinh Thánh
  1. Mặc khải trong Kinh thánh dạy rằng tất cả mọi người đều có phẩm giá vốn có bởi vì họ được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa: “Thiên Chúa phán: 'Chúng ta hãy làm nên con người theo hình ảnh chúng ta, theo hình mẫu của chúng ta' [...] Vì vậy, Thiên Chúa đã dựng nên con người theo hình ảnh của mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (Sáng thế ký 1: 26-27). Với điều này, nhân loại có một phẩm chất đặc biệt, có nghĩa là nó không thể đơn thuần giản lược thành các yếu tố vật chất. Hơn nữa, “hình ảnh” không xác định linh hồn hay khả năng trí tuệ mà là phẩm giá của người nam và người nữ. Trong mối quan hệ bình đẳng và yêu thương lẫn nhau, cả người nam và người nữ đều đại diện cho Thiên Chúa trên thế giới và cũng được kêu gọi để nâng niu, nuôi dưỡng thế giới. Bởi vì điều này, được tạo ra theo hình ảnh của Chúa có nghĩa là sở hữu một giá trị thiêng liêng vượt lên trên mọi sự phân biệt về giới tính, xã hội, chính trị, văn hóa và tôn giáo. Phẩm giá của chúng ta được Thiên Chúa ban cho; nó không được đòi hỏi hay xứng đáng. Mỗi con người đều được Thiên Chúa yêu thương và mong muốn, do đó, có một phẩm giá bất khả xâm phạm. Trong sách Xuất Hành, ở trung tâm của Cựu Ước, Thiên Chúa tỏ mình là Đấng nghe thấy tiếng kêu than của người nghèo, thấy cảnh khốn cùng của dân mình, và quan tâm đến những người thấp hèn nhất và những người bị áp bức (xem Xh 3,7; 22,20–26). Giáo huấn tương tự cũng có thể được tìm thấy trong Bộ luật Đệ nhị luật (xem Đnl 12-26); Ở đây, giáo huấn về quyền được chuyển thành bản tuyên ngôn về phẩm giá con người, đặc biệt ủng hộ ba nhóm người: trẻ mồ côi, góa phụ và khách lạ (xem Đnl 24,17). Các giáo huấn cổ xưa trong sách Xuất Hành được nhắc lại và áp dụng vào thời điểm rao giảng của các ngôn sứ, những người đại diện cho lương tâm phê phán của dân Israel. Các ngôn sứ Amos, Hosea, Isaiah, Micah và Jeremiah đều có những lời lên án sự bất công. Amos cay đắng lên án sự áp bức người nghèo và sự thất bại của những người nghe ông trong việc nhận ra bất kỳ phẩm giá cơ bản nào của con người nơi những người khốn khổ (xem Am 2,6 – 7; 4,1; 5,11 – 12). Isaiah nguyền rủa những kẻ chà đạp quyền lợi của người nghèo, không cho họ công lý: “Khốn cho những kẻ ban hành các sắc lệnh bất công, và những người viết tiếp tục viết những điều áp bức, để đánh đuổi người nghèo ra khỏi công lý” (Is 10, 1– 2). Giáo huấn mang tính ngôn sứ này được lặp lại trong Văn chương Khôn ngoan. Ví dụ, Sirach đánh đồng việc áp bức người nghèo với tội giết người: “Lấy đi sinh kế của người lân cận là sát hại họ; tước đoạt tiền lương của người lao động là đổ máu” (Sir. 34,22). Trong các Thánh vịnh, mối quan hệ tôn giáo với Thiên Chúa được thể hiện qua việc bênh vực những người yếu đuối và nghèo khó: “Hãy thực thi công lý cho người yếu đuối và trẻ mồ côi; thực thi công lý cho người nghèo và người đau khổ. Hãy giải cứu kẻ yếu đuối và người nghèo khó; hãy giải thoát họ khỏi bàn tay kẻ ác” (Tv 82,3–4).
 
  1. Sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh khiêm nhường, Chúa Giê-su mặc khải phẩm giá của người túng thiếu và những người lao động. [20] Sau đó, trong suốt sứ vụ công khai của mình, Ngài khẳng định giá trị và phẩm giá của tất cả những ai mang hình ảnh của Thiên Chúa, bất kể địa vị xã hội và hoàn cảnh bên ngoài của họ. Chúa Giêsu đã phá vỡ những rào cản văn hóa và giáo phái, phục hồi phẩm giá cho những người bị “ruồng bỏ” hoặc bị coi là bên lề xã hội, chẳng hạn như người thu thuế (xem Mt 9,10–11), phụ nữ (xem Ga 4 : 1-42), trẻ em (xem Mc 10,14–15), người phong cùi (xem Mt 8,2–3), người bệnh (xem Mc 1,29-34), người ngoại quốc (xem Mt 25,35) và những người góa bụa (xem Lc 7,11 – 15). Ngài chữa lành, cho ăn, bênh vực, giải phóng và cứu rỗi. Ngài được mô tả như một người chăn chiên lo lắng về con chiên bị mất (xem Mt 18: 12-14). Ngài đồng nhất mình với người thấp hèn nhất trong các anh em mình: “Anh em làm gì cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là làm cho chính Ta vậy.” (Mt 25,40). Trong ngôn ngữ Kinh thánh, “những người bé mọn” không chỉ là trẻ em mà còn là những người dễ bị tổn thương, những người tầm thường nhất, những người bị ruồng bỏ, bị áp bức, bị bỏ rơi, người nghèo, người bị gạt ra bên lề, người không hiểu biết, người bệnh tật, và những người bị kẻ mạnh chà đạp. Đức Kitô vinh quang sẽ phán xét bởi tình yêu thương tha nhân bao gồm việc chăm sóc người đói, người khát, người lạ, người trần trụi, người bệnh và người bị bỏ tù, người mà Ngài đồng nhất với mình (xem Mt 25,34 – 36). Đối với Chúa Giê-su, điều tốt đẹp được thực hiện cho mọi người, bất kể quan hệ huyết thống hay tôn giáo, là tiêu chí duy nhất để phán xét. Sứ đồ Phao-lô khẳng định rằng mọi Ki-tô hữu phải sống theo các đòi hỏi của phẩm giá và tôn trọng quyền lợi của tất cả mọi người (xem Rm 13,8 – 10) theo điều răn mới về yêu thương (xem 1 Cr 13,1 – 13).

Những phát triển trong Tư tưởng Kitô giáo
  1. Khi tư tưởng Kitô giáo phát triển, nó cũng thúc đẩy và đồng hành cùng sự tiến bộ trong suy tư của nhân loại về khái niệm phẩm giá. Dựa trên truyền thống phong phú của các Giáo Phụ, nhân học Kitô giáo cổ điển đã nhấn mạnh giáo lý về con người được tạo ra theo hình ảnh và sự giống nhau của Thiên Chúa, cùng vai trò đặc biệt của con người trong công trình sáng tạo.[21] Bằng cách sàng lọc một cách phê phán qua di sản thừa kế từ triết học cổ đại, tư tưởng Kitô giáo thời Trung cổ đã đạt đến một tổng hợp về khái niệm "con người", công nhận nền tảng siêu hình của nhân phẩm. Thánh Thomas Aquinas đã chứng thực điều này khi ngài khẳng định rằng “'con người' biểu thị điều hoàn hảo nhất trong toàn bộ tự nhiên—đó là một cá thể tồn tại thuộc về một bản thể lý tính.” [22] Chủ nghĩa nhân văn Kitô giáo của thời Phục hưng sau đó đã nhấn mạnh phẩm giá bản thể học này và biểu hiện nổi bật của nó trong hành động tự do của con người. [23] Ngay cả trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng hiện đại như Descartes và Kant, những người đã thách thức một số nền tảng của nhân học Kitô giáo truyền thống, người ta vẫn có thể cảm nhận rõ ràng những âm hưởng của Mặc Khải. Dựa trên một số suy tư triết học gần đây về vị thế của chủ thể lý thuyết và thực tiễn, sự suy niệm Kitô giáo sau đó chuyển sang nhấn mạnh hơn nữa chiều sâu của khái niệm phẩm giá.  Trong thế kỷ XX, điều này đạt đến một viễn cảnh độc đáo (thể hiện qua Chủ nghĩa Cá nhân) đã xem xét lại câu hỏi về tính chủ thể và mở rộng nó để bao gồm tính liên chủ thể và các mối quan hệ gắn kết mọi người với nhau.[24] Tư tưởng bắt nguồn từ quan điểm này đã làm phong phú thêm nhân học Kitô giáo đương đại. [25]


2. Giáo Hội Công Bố, Thúc Đẩy và Bảo Vệ Phẩm Giá Con Người

17. Giáo Hội công bố phẩm giá bình đẳng của tất cả mọi người, bất kể điều kiện sống hay phẩm chất của họ. Tuyên bố này dựa trên ba nền tảng cho niềm tin về phẩm giá con người, mà—trong ánh sáng của đức tin Kitô giáo— mang lại cho phẩm giá con người một giá trị vô song và củng cố những đòi hỏi nội tại của nó.

Hình ảnh không thể xóa nhòa của Thiên Chúa

18. Niềm tin đầu tiên, được rút ra từ Mặc Khải, cho rằng phẩm giá của con người đến từ tình yêu của Đấng Tạo Hóa, Đấng đã khắc sâu những đường nét không thể xóa nhòa của hình ảnh Ngài trên mỗi con người (x. St 1,26). Đấng Tạo Hóa mời gọi mỗi người nhận biết Ngài, yêu mến Ngài và sống trong mối tương quan giao ước với Ngài, đồng thời kêu gọi họ sống tình huynh đệ, công lý và hòa bình với mọi người. Theo quan điểm này, phẩm giá không chỉ nói đến linh hồn mà còn nói đến toàn bộ con người, một sự hợp nhất không thể tách rời giữa thể xác và linh hồn. Theo đó, phẩm giá cũng vốn có trong thân xác của mỗi người, là nơi mang hình ảnh của Thiên Chúa theo cách riêng (in imago Dei) và cũng được mời gọi để chia sẻ vinh quang của linh hồn trong hạnh phúc thần linh.

Đức Kitô nâng cao phẩm giá con người

19. Niềm tin thứ hai xuất phát từ thực tế là phẩm giá của con người đã được mặc khải trọn vẹn khi Chúa Cha sai chính Con Ngài nhập thể làm người một cách trọn vẹn: “Trong mầu nhiệm Nhập Thể, Con Thiên Chúa đã xác nhận phẩm giá của thân xác và linh hồn cấu thành nên con người.” [30] Qua việc kết hợp chính mình với mọi người qua sự Nhập Thể, Đức Giêsu Kitô đã xác nhận rằng mỗi người sở hữu một phẩm giá vô lượng chỉ bởi vì họ thuộc về cộng đồng nhân loại; hơn nữa, Ngài khẳng định rằng phẩm giá này không bao giờ có thể bị mất đi. [31] Bằng cách công bố rằng Nước Thiên Chúa thuộc về người nghèo, người khiêm nhường, người bị khinh miệt và những người đau khổ về thể xác và tinh thần; bằng cách chữa lành mọi thứ bệnh tật và đau yếu, thậm chí là những căn bệnh nặng nề nhất, chẳng hạn như bệnh phong cùi; bằng cách khẳng định rằng bất cứ điều gì làm cho những người này cũng là làm cho Ngài vì Ngài ở trong họ: trong tất cả những điều này, Chúa Giêsu đã mang đến sự mới mẻ tuyệt vời khi công nhận phẩm giá của mỗi người, đặc biệt là những người được coi là "không xứng đáng.” Nguyên tắc mới mẻ này trong lịch sử nhân loại— nhấn mạnh rằng các cá nhân thậm chí còn "xứng đáng" hơn để chúng ta tôn trọng và yêu thương khi họ yếu đuối, bị khinh miệt hoặc đau khổ, thậm chí đến mức mất đi "hình hài" con người —đã thay đổi bộ mặt của thế giới. Nó đã mang lại sức sống cho các tổ chức chăm sóc những người đang gặp hoàn cảnh khó khăn, chẳng hạn như trẻ sơ sinh bị bỏ rơi, trẻ mồ côi, người già không được giúp đỡ, người bệnh tâm thần, người mắc bệnh nan y hoặc dị tật nặng, người sống trên đường phố.

Ơn gọi đạt tới sự viên mãn của phẩm giá

20. Niềm tin thứ ba liên quan đến số phận tối hậu của con người. Sau công trình Tọa Dựng và Nhập Thể, Sự Phục Sinh của Đức Kitô đã mặc khải thêm một khía cạnh khác của phẩm giá con người. Quả thực, “phẩm giá của con người cốt yếu dựa trên thực tế là con người được mời gọi hiệp thông với Thiên Chúa,” [32] một cuộc hiệp thông được định sẵn để tồn tại mãi mãi. Vì vậy, "phẩm giá của sự sống này không chỉ gắn với khởi đầu của nó, với thực tế rằng nó đến từ Thiên Chúa, mà còn gắn liền với cùng đích cuối cùng của nó, với định mệnh thông hiệp với Thiên Chúa trong sự hiểu biết và yêu mến Ngài." [33]

21. Do đó, Giáo Hội tin tưởng và khẳng định rằng tất cả mọi người — được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa, và được tái tạo [34] nơi Chúa Con, Đấng trở nên con người, bị đóng đinh và sống lại — đều được kêu gọi để lớn lên dưới tác động của Chúa Thánh Thần nhằm phản ánh vinh quang của Chúa Cha trong chính hình ảnh đó, và chia sẻ sự sống đời đời (x. Ga 10,15–16, 17,22–24; 2 Cr 3,18; Ep 1,3–14). Quả thật, “Mặc Khải […] cho thấy phẩm giá của một con người trong tất cả sự viên mãn của nó.” [35]
Cam Kết Với Tự Do Của Chính Mình
 
22. Mỗi cá nhân đều sở hữu phẩm giá bất khả xâm phạm và nội tại ngay từ khi bắt đầu sự tồn tại của mình như một món quà không thể thu hồi. Tuy nhiên, việc lựa chọn thể hiện phẩm giá đó và biểu lộ nó trọn vẹn hay che khuất nó lại phụ thuộc vào quyết định tự do và có trách nhiệm của mỗi người. Một số Giáo phụ, chẳng hạn như Thánh Irênê và Thánh Gioan Đamascenô, đã phân biệt giữa “hình ảnh” và “sự giống nhau” được đề cập trong sách Sáng thế (xem 1,26). Điều này cho phép một góc nhìn năng động về phẩm giá con người, theo đó hình ảnh của Thiên Chúa được giao phó cho sự tự do của con người để—dưới sự hướng dẫn và tác động của Thần Khí—sự giống nhau của con người với Thiên Chúa có thể phát triển và mỗi người có thể đạt được phẩm giá cao nhất của mình. [36] Mọi người đều được kêu gọi biểu lộ phạm vi bản thể của phẩm giá mình ở cấp độ hiện sinh và luân lý, khi họ, bằng sự tự do của mình, tự định hướng bản thân hướng về điều thiện chân chính để đáp lại tình yêu của Thiên Chúa. Như vậy, với tư cách là người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa, con người không bao giờ đánh mất phẩm giá của mình và không bao giờ ngừng được kêu gọi để tự do đón nhận điều thiện. Đồng thời, trong chừng mực người đó đáp lại điều thiện, phẩm giá của mỗi người có thể tự do biểu lộ, phát triển năng động và dần dần; cùng với tiến trình đó, nó có thể phát triển và trưởng thành. Do đó, mỗi người cũng phải cố gắng để sống xứng đáng với mức độ trọn vẹn của phẩm giá mình. Dưới ánh sáng này, người ta có thể hiểu được tội lỗi có thể làm tổn thương và che khuất phẩm giá con người như thế nào, vì đây là một hành động trái ngược với phẩm giá; tuy nhiên, tội lỗi không bao giờ có thể xóa bỏ được sự thật rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh và giống Thiên Chúa. Theo cách này, đức tin đóng một vai trò quyết định trong việc giúp lý trí nhận thức phẩm giá con người và trong việc chấp nhận, củng cố và làm rõ các đặc điểm cốt lõi của nó, như Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã chỉ ra: “Tuy nhiên, nếu không được điều chỉnh bởi tôn giáo, bản thân lý trí cũng có thể trở thành nạn nhân của những xuyên tạc, chẳng hạn như khi nó bị thao túng bởi ý thức hệ, hoặc được áp dụng một cách thiển cận, không tính đến toàn bộ phẩm giá của con người. Cuộc lạm dụng lý trí như vậy, rốt cuộc, chính là nguồn gốc của nạn buôn bán nô lệ ngay từ đầu và nhiều tệ nạn xã hội khác, không kể đến các hệ tư tưởng độc tài của thế kỷ XX.”[37]
Bản dịch của Duc Trung Vu, CSsR (Còn tiếp)
 

[1] John Paul II, Angelus in the Cathedral of Osnabrück (16 November 1980): Insegnamenti III/2 (1980), 1232.

[2] Francis, Apostolic Exhortation Laudate Deum (4 October 2023), no. 39: L’Osservatore Romano (4 October 2023), III.

[3] In 1948, the United Nations adopted the Universal Declaration of Human Rights, which consists of thirty articles. The word “dignity” appears there five times, in strategic places: in the first words of the Preamble and in the first sentence of Article One. This dignity is declared to be “inherent in all members of the human family” (Preamble) and “all human beings are born free and equal in dignity and rights” (Article 1).

[4] Paying attention only to the modern era, we see how the Church has progressively accentuated the importance of human dignity. The theme was particularly developed in Pope Leo XIII’s Encyclical Rerum Novarum (1891), Pope Pius XI’s Encyclical Quadragesimo Anno (1931) and Pope Pius XII’s Address to the Congress of the Italian Catholic Union of Midwives (1951). The Second Vatican Council, then, developed this issue, devoting an entire document to the subject with the Declaration Dignitatis Humanae (1965) and discussing human freedom in the Pastoral Constitution Gaudium et Spes (1965).

[5] Paul VI, General Audience (4 September 1968): Insegnamenti VI (1968), 886.

[6] John Paul II, Address to the Third General Conference of the Latin American Episcopate (28 January 1979), III.1-2: Insegnamenti II/1 (1979), 202-203.

[7] Benedict XVI, Address to Participants in the General Assembly of the Pontifical Academy for Life (13 February 2010)Insegnamenti VI/1 (2011), 218.

[8] Benedict XVI, Address to Participants in the Meeting of the Development Bank of the Council of Europe (12 June 2010): Insegnamenti VI/1 (2011), 912-913.

[9] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium (24 November 2013), no. 178: AAS 105 (2013), 1094; quoting John Paul II, Angelus in the Cathedral of Osnabrück (16 November 1980): Insegnamenti III/2 (1980), 1232.

[10] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), no. 8: AAS 112 (2020), 971.

[11] Ibid., no. 277: AAS 112 (2020), 1069.

[12] Ibid., no. 213: AAS 112 (2020), 1045.

[13] Ibid., no. 213: AAS 112 (2020), 1045; quoting Id., Message to Participants in the International Conference “Human Rights in the Contemporary World: Achievements, Omissions, Negations” (10 December 2018): L’Osservatore Romano, (10-11 December 2018), 8.

[14] The 1948 UN Declaration was followed and further elaborated by the 1966 UN International Covenant on Civil and Political Rights and the 1975 Helsinki Final Act of the Conference on Security and Cooperation in Europe.

[15] Cf. International Theological Commission, Dignity and Rights of the Human Person (1983), Introduction, 3. A compendium of Catholic teaching on human dignity can be found in the Catechism of the Catholic Church, in the chapter entitled, “The Dignity of the Human Person,” nos. 1700-1876.

[16] Francis, Encyclical Letter Fratelli Tutti (3 October 2020), no. 22: AAS 112 (2020), 976.

[17] Boethius, Contra Eutychen et Nestorium, c. 3: PL 64, 1344: “persona est rationalis naturae individua substantia.” Cf. Bonaventure, In I Sent., d. 25, a. 1, q. 2; Thomas Aquinas, Summa Theologiae I, q. 29, a. 1, resp.

[18] Since it is not the purpose of this Declaration to draw up an exhaustive treatise on the notion of dignity, for the sake of brevity, only the so-called classical Greek and Roman culture is mentioned here as an example, as the point of reference for early Christian philosophical and theological reflection.

[19] For example, see Cicero, De Officiis I, 105-106: “Sed pertinet ad omnem officii quaestionem semper in promptu habere, quantum natura hominis pecudibus reliquisque beluis antecedat […] Atque etiam si considerare volumus, quae sit in natura excellentia et dignitas, intellegemus, quam sit turpe diffluere luxuria et delicate ac molliter vivere quamque honestum parce, continenter, severe, sobrie” (Id., Scriptorum Latinorum Bibliotheca Oxoniensis, ed. M. Winterbottom, Oxford 1994, 43). In English translation: “But it is essential to every inquiry about duty that we keep before our eyes how far superior man is by nature to cattle and other beasts […] And if we will only bear in mind the superiority and dignity of our nature, we shall realize how wrong it is to abandon ourselves to excess and to live in luxury and voluptuousness, and how right it is to live in thrift, self-denial, simplicity, and sobriety” (Id., On Duties, tr. W. Miller, Loeb Classical Library 30, Harvard University Press, Cambridge 1913, 107-109).

[20] Cf. Paul VI, Address to the Pilgrimage to the Holy Land: Visit to the Basilica of the Annunciation in Nazareth (5 January 1964): AAS 56 (1964), 166-170.

[21] For example, see Clement of Rome, 1 Clem. 33, 4f: PG 1, 273; Theophilus of Antioch, Ad Aut. I, 4: PG 6, 1029; Clement of Alexandria, Strom. III, 42, 5-6: PG 8, 1145; Ibid., VI, 72, 2: PG 9, 293; Irenaeus of Lyons, Adv. Haer. V, 6, 1: PG 7, 1137-1138; Origen, De princ. III, 6, 1: PG 11, 333; Augustine, De Gen. ad litt. VI, 12: PL 34, 348; De Trinitate XIV, 8, 11: PL 42, 1044-1045.

[22] Thomas Aquinas, Summa Theologiae, I, q. 29, a. 3, resp.: «persona significat id, quod est perfectissimum in tota natura, scilicet subsistens in rationali natura».

[23] Cf. Giovanni Pico della Mirandola and his well-known text, Orartio de Hominis Dignitate (1486).

[24] For a Jewish thinker, such as E. Levinas (1906-1995), the human being is qualified by his freedom insofar as he discovers himself as infinitely responsible for another human being.

[25] Some great Christian thinkers of the nineteenth and twentieth centuries—such as St. J.H. Newman, Bl. A. Rosmini, J. Maritain, E. Mounier, K. Rahner, H.‑U. von Balthasar, and others—have succeeded in proposing a vision of the human person that can validly dialogue with all the currents of thought present in the early twenty-first century, whatever their inspiration, even Postmodernism.

[26] This is why the “Universal Declaration of Human Rights […] implicitly suggests that the source of inalienable human rights is found in the dignity of every human person” (International Theological Commission, In Search of a Universal Ethics: A New Look at the Natural Law [2009], no. 115).

[27] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes (7 December 1965), no. 26: AAS 58 (1966), 1046. The entire first chapter of the first part of the Pastoral Constitution (nos. 11-22) is devoted to the “Dignity of the Human Person.”

[28] Second Vatican Ecumenical Council, Declaration Dignitatis Humanae (7 December 1965), no. 1: AAS 58 (1966), 929.

[29] Ibid., no. 2: AAS 58 (1966), 931.

[30] Cf. Congregation for the Doctrine of the Faith, Instruction Dignitas Personae (8 September 2008), no. 7: AAS 100 (2008), 863. Cf. also Irenaeus of Lyons, Adv. Haer. V, 16, 2: PG 7, 1167-1168.

[31] Since “by his Incarnation, the Son of God has united himself in a certain way with every man,” the dignity of every man is revealed to us by Christ in its fullness (Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes [7 December 1965], no. 22: AAS 58 [1966], 1042).

[32] Second Vatican Ecumenical Council, Pastoral Constitution Gaudium et Spes (7 December 1965), no. 19: AAS 58 (1966), 1038.

[33] John Paul II, Encyclical Letter Evangelium Vitae (25 March 1995), no. 38: AAS 87 (1995), 443, quoting Irenaeus of Lyons, Adv. Haer. IV, 20, 7: PG 7, 1037-1038.

[34] Indeed, Christ has given the baptized a new dignity, that of being “sons of God”: cf. Catechism of the Catholic Church, nos. 1213, 1265, 1270, 1279.

[35] Second Vatican Ecumenical Council, Declaration Dignitatis Humanae (7 December 1965), no. 9: AAS 58 (1966), 935.

[36] Cf. Irenaeus of Lyons, Adv. Haer. V, 6, 1. V, 8, 1. V, 16, 2: PG 7, 1136-1138. 1141-1142. 1167-1168; John Damascene, De fide orth. 2, 12: PG 94, 917-930.

[37] Benedict XVI, Address at Westminster Hall (17 September 2010): Insegnamenti VI/2 (2011), 240.

Tác giả: Duc Trung Vu, CSsR 

***+***
xkta
lpv
gkpv
tvcv
***+***
ra khoi
lnth
LIÊN KẾT

 

 

 

11.jpg 8.jpg 9.jpg 10.jpg 13.jpg
PAGE FACEBOOK
THỐNG KÊ
  • Đang truy cập69
  • Máy chủ tìm kiếm39
  • Khách viếng thăm30
  • Hôm nay14,099
  • Tháng hiện tại1,119,674
  • Tổng lượt truy cập72,486,020
Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây