Truyện ngắn: Cuộc hoán cải của cái lão "Du Dêu"

Thứ ba - 27/01/2026 08:15  333
Lão Hớn là một ông tướng về hưu. Cả một thanh xuân xông pha, chinh chiến ngoài trận mạc, lúc hòa bình, lại đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng trong quân đội, thành ra, chẳng phải nói thì ai cũng hiểu việc “đạo nghĩa” của lão thế nào. Thế nhưng, được cái Lão lại dạy con khá quy củ, nghiêm khắc, “bệnh nhà binh” mà, nên con cái lão ai cũng thành đạt, có nghề nghiệp ổn định, lương cao, thậm chí còn có vị thế trong xã hội nữa. Tiền vợ chồng lão cả đời tích góp, rồi lương hưu kha khá của hai người, cộng với khoản tiền các con thơm thảo, khiến tuổi già của lão chả phải lo lắng gì về chuyện tiền nong, nếu không muốn nói là rất thanh nhàn, sung túc. Thế nhưng, ngôi nhà lớn ở giữa thủ đô tráng lệ, với đầy tủ tiện nghi không thể giữ chân lão lâu hơn được nữa. Lão đã chán ngấy cái không khí xô bồ, ồn ào, ra đường là xe cộ rầm rập suốt ngày đêm, lại còn phải chịu cái cảnh ngột ngạt, ru rú trong nhà, nhà ai biết nhà ấy. Bởi thế, mặc cho vợ con hết lời khuyên can, lão vẫn quyết định dành phần đời còn lại ở cái làng quê nghèo, nơi chất chứa biết bao kỷ niệm thời còn tắm sông của lão. Biết tính lão đã quyết là làm, đố ai cản được, nên sẵn có mảnh đất ở quê của tổ tiên để lại, con cái lão quyết định xây một ngôi biệt thự thật hoành tráng để lão dưỡng già.

Trong mắt những ai có tính ghen tị, vẻ nguy nga, tráng lệ của ngôi biệt thự nhà lão Hớn nổi bật giữa những ngôi nhà mái ngói xỉn màu thời gian, thấp lè tè, nhiều cái còn cũ kĩ, bong tróc, xiêu vẹo, thật chẳng khác nào một sự trêu ngươi đến lộ liễu. Nếu trước đây, khi chưa có gì để so sánh, họ có thể thấy cái nghèo của mình cũng bình thường, dễ chấp nhận, bởi đâu chỉ mình mình như thế, xung quanh người ta “ráo cả vậy” đó thôi. Nhưng khi đập vào mắt là cái cảnh tượng đầy tương phản, nhắc họ về gia cảnh bần hàn của mình, điều mà họ đã muốn cố quên đi để vui vẻ sống; thì sự bình an giả dối kia lập tức hiện nguyên hình. Họ nhìn sự giàu có của người khác với vẻ cau có, bực tức, ghen tị đầy sân si. Họ không muốn có ai đó hơn họ, nhất là “ai đó” kia lại là người mà họ tưởng mình có quyền được coi thường, chế giễu. Đó là tâm trạng của bà Phớn, hàng xóm của lão.

Bà Phớn là một người chua ngoa có tiếng, lại rất hay soi mói vào chuyện riêng của người khác, và lấy đó làm chất liệu để đi “buôn dưa lê bán dưa chuột”. Bà mà vớ được tật xấu của ai thì bà rêu rao khắp làng trên xóm dưới, cho “ngại không dám vác mặt ra đường”. Thế nhưng, bà ta chẳng bao giờ nghĩ tính đó của mình là tật xấu. Trái lại, bà tưởng mình là chiến binh can trường trên mặt trận bảo vệ thuần phong mỹ tục của làng. Nhiều lúc bà nói giọng đầy tự hào: “Tôi công kích cái xấu nhiệt tình như thế mà không được cấp bằng chiến sĩ thi đua kể ra cũng hơi thiệt thòi”. Người ta nhịn vì chẳng muốn dây vào “tổ kiến lửa”, chịu ậm ừ bà cho đỡ phiền phức, ấy thế mà bả lại cứ tưởng mình được kính nể, thành ra ngày càng thêm quá quắt. Nhưng lão Hớn, một vị tướng xông pha trận mạc, đời nào lại chịu khép nép trước cái mồm của một mụ đàn bà nhà quê đanh đá. Bởi đó, khi bà Phớn châm chọc lão: “Cứ tưởng chức tước giàu sang khiến ông quên luôn gốc gác mình ở đâu rồi chứ? Hóa ra vẫn còn nhớ đường mà mò về”, lão đốp chát ngay: “Giá mụ dùng cái thời gian đi xía vào chuyện người khác, chỉ để ra chợ ngồi bán rau thôi, thì giờ mụ còn giàu hơn cả tôi, chứ không phải rúc trong cái ổ xập xệ kia”. Câu nói chạm nọc ấy khiến bà cứng họng, cơn tức ứ lên đến tận cổ. Bà hằm hằm bỏ đi, và từ đó lão Hớn được liệt vào “danh sách đen”, thành đối tượng được “chăm sóc” đặc biệt.

Muốn có cớ nói xấu lão, bà Phớn chẳng cần phải nhọc công “bới lông tìm vết”, bởi tội của lão vừa tày trời, lại chẳng chút giấu giếm, cứ chềnh ềnh ra trước bàn dân thiên hạ đó thôi. Ở cái làng hầu như toàn tòng, mà một người gốc đạo, lại ở cái tuổi gần đất xa trời, chẳng chịu lễ lạy gì, thì đúng là không thể chấp nhận được. Mỗi sáng Chúa Nhật, trong khi mọi người í ới rủ nhau đi lễ, thì lão lại lụi cụi ngoài vườn, khi thì tưới cây, khi thì cắt cỏ, có bữa còn ngồi uống trà, nhìn mây bay lững thững. Mỗi lần đi lễ qua nhà lão, thấy cảnh ấy, bà Phớn tức lộn ruột. Bà càng ngày càng thấy mình có quyền được khinh lão ra mặt. Bà rỉ tai hết người này đến người khác rằng: “Giàu có thế mà không biết giữ đạo, chết xuống dưới đó thì của cải nào cứu được.” Trong mắt bà, lão Hớn chẳng qua chỉ là kẻ giàu mà vô đạo, bên ngoài có vẻ đàng hoàng nhưng bên trong rỗng tuếch. Còn bà, dù nhà cửa xiêu vẹo, đời sống chẳng mấy khá giả, nhưng vì đi lễ đều đặn, đọc kinh không sót chữ nào, nên bà tin chắc mình vẫn đứng ở “chiếu trên”. Có lần bà còn lớn tiếng giữa đám đông: “Cái phúc của con người không nằm ở cái nhà to hay cái lương hưu cao. Không giữ đạo thì có ăn sung mặc sướng, nhà cao cửa rộng mấy cũng bằng thừa.” Nói xong, bà liếc xéo về phía nhà lão Hớn, ánh mắt đầy vẻ phán xét, khinh miệt. Thậm chí, có lần gặp lão ngoài ngõ, bà chẳng thèm vòng vo, buông luôn một câu lạnh tanh: “Ông sống thế này, không đi lễ, không giữ luật Chúa, mai mốt chết rồi coi chừng bị đày xuống hỏa ngục đó.” Bà nói bằng giọng chắc nịch, như thể bà cũng được Chúa trao quyền đóng mở Thiên Đàng như cụ Phêrô vậy. Lão Hớn nghe vậy chỉ cười nhạt, chế giễu: “Chết tôi có xuống hỏa ngục hay không thì chưa chắc! Chứ bây giờ tôi đang sướng như thiên đàng, còn hơn ai đó đang vì ghen ghét mà sống như trong hỏa ngục” Mụ Hớn thấy lão chẳng những không sợ, lại nói kháy mụ thế, cơn giận càng sôi lên sùng sục. Bà nhổ nước miếng đánh toẹt một cái, rồi quay ngoắt người, vùng vằng bỏ đi. Lão nói với theo: “Xuống dưới kia tôi với bà vẫn là hàng xóm tốt của nhau nhé”, rồi cười khùng khục. Cả đời lão lăn lộn ngoài chiến trường, chứng kiến bao cảnh sống chết, bao lần bị hành hạ bởi cơn đói và bệnh sốt rét rừng, thậm chí có lần bị tra tấn dã man trong hang ổ địch, bao nhiêu thứ như thế còn chẳng khiến lão nhíu mày lấy một cái, thì cái lời dọa nạt của mụ Hớn làm lão sợ được chắc? Rồi lão nghĩ đến bộ dạng của mấy đồng đội của lão, khi được nghe kể về việc lão “Hớn lì” bị mụ nhà quê lôi hỏa ngục ra dọa, lão bất giác phì cười.

Lão Hớn không đi lễ, không phải là lão bài xích hay căm ghét gì đạo, mà chỉ vì cái thói khô khan đã ngấm vào máu, giờ thay đổi lão cứ thấy ngại ngại. Với lại, giờ tự nhiên lão đi lễ, người ta lại có cớ bàn ra tán vào rằng: “Lão Hớn trông vậy mà cũng nhát chết ha. Mới bị mụ Phớn dọa tí hỏa ngục đã vội ngon lành cành đào rồi”. Như thế thì còn gì là mặt mũi nữa. Ngoài ra, mặc dù ai cũng tưởng lão bỏ đạo, nhưng lạ lùng thay, trong một góc vườn của lão Hớn, giữa những khóm hồng thơm ngát đầy màu sắc, lại có một đài Đức Mẹ cũ kỹ, rêu mốc, nước sơn đã phai, vài chỗ còn sứt mẻ vì thời gian. Khi xây căn biệt thự này, con lão cũng đã khuyên phá đi cho đỡ vướng, nhưng lão nhất quyết không chịu, bởi nó gắn liền với ký ức về người mẹ mà lão không được nhìn mặt bà lần cuối, cũng chẳng được về chịu tang. Ngày ấy, khi lão còn là một chàng trai trẻ, sắp sửa khoác ba lô ra chiến trường, chính mẹ đã dắt lão đến trước bức tượng Đức Mẹ kia. Người đàn bà quê mùa, áo nâu sờn vai, đứng lặng rất lâu, nước mắt lã chã, rồi chắp tay khấn xin cho con mình được bình an trở về. Trước khi tiễn lão đi, bà còn giúi vào tay lão một cỗ tràng hạt bằng bạc, dặn dò bằng giọng run run: “Con phải hứa với mẹ đi đâu thì đi, nhớ mỗi ngày đọc ít là ba kinh Kính Mừng với Đức Mẹ, đừng bao giờ quên. Đức Mẹ sẽ gìn giữ con.” Lão Hớn ngày ấy chẳng phải người mộ đạo gì cho cam. Nhưng trước ánh mắt của người mẹ hiền, lão chỉ biết gật đầu, giọng nhẹ tênh: “Mẹ cứ yên lòng. Con hứa”. Và lạ thay, giữa bom đạn khốc liệt, giữa những đêm rừng lạnh buốt, lão vẫn âm thầm cầm tràng hạt mẹ đưa, đọc đủ ba kinh Kính Mừng như đã hứa. Không hẳn vì đạo đức, cũng chẳng vì sợ tội, mà đơn giản là vì lão không muốn thất hứa với mẹ. Thói quen âm thầm ấy theo lão suốt bao năm chinh chiến, rồi theo lão cả khi công tác, đến tận bây giờ. Thế nên, lão vẫn giữ lại đài Đức Mẹ cũ ấy, như giữ lại một phần ký ức không thể thay thế. Còn hoa hồng, lão trồng quanh tượng không phải chỉ vì sở thích. Ngày xưa, mẹ lão cũng trồng hoa hồng như thế, sáng sớm ra tưới nước, chiều lại tỉa cành, vừa làm vừa lẩm nhẩm đọc kinh. Lão chăm hoa, cũng là chăm một kỷ niệm, một mối dây thầm lặng kết nối lão với người mẹ đã khuất.

Một lần kia, cha xứ tìm đến thăm lão Hớn. Sau những lời chào xã giao, ngượng ngập, cha nói với lão rằng ông cố của cha cũng chạc tuổi lão, cũng đi lính nhưng không may tử trận đến giờ vẫn chưa tìm thấy hài cốt, đoán lão hiểu biết về chuyện đó hơn nên muốn đến hỏi ý kiến lão. Lão Hớn vốn định chưng ra cái bộ mặt dửng dưng, lạnh lùng, vì tưởng rằng ông cha đến đây lại sắp lên lớp lão bằng những lời khuyên răn đạo đức, nhưng nghe cha kể về ông cố, lão lắng nghe rất chăm chú. Lòng lão như se lại mỗi khi nghe kể về những người lính chết mất xác ngoài chiến trường. Những lúc như vậy, lão thấy việc mình còn sống, mà lại còn có danh vọng, phú quý sau khi rời chiến trường, là một món nợ đối với những đồng đội kém may mắn kia. Từ thế phòng thủ, phản công, giờ lão thấy cha gần gũi như đứa con của một người chiến hữu từng vào sinh ra tử. Hai người ngồi với nhau khá lâu, câu chuyện chủ yếu xoay quanh chuyện đời lính, chuyện làng quê xưa cũ. Mãi sau, lão dẫn cha đi một vòng quanh nhà, đến chỗ vườn hồng có đài Đức Mẹ, cha khá bất ngờ, dừng lại thật lâu, lặng lẽ ngắm nhìn.

Cha không hỏi vì sao lão không đi lễ, cũng chẳng trách sao lão ít khi xuất hiện trong nhà thờ. Cha chỉ nhẹ nhàng hỏi: “Bức tượng này chắc gắn với ông nhiều kỷ niệm lắm?” Câu hỏi ấy như chạm đúng mạch ngầm đã lâu lão giấu kín. Lần đầu tiên, lão kể cho một người ngoài nghe câu chuyện về người mẹ già, về cỗ tràng hạt, về lời hứa trước ngày ra chiến trường, và về những đêm bom đạn lão thì thầm đọc ba kinh Kính Mừng, không dám quên một ngày nào. Cha xứ nghe rất chăm chú, không ngắt lời, không bình luận. Khi lão kể xong, cha chỉ mỉm cười và nói một câu rất khẽ: “Ông có người mẹ thật tuyệt vời!” Rồi cha ngập ngừng đề nghị: “Vườn hồng này đẹp quá. Nếu ông không ngại, tôi xin phép được tổ chức một buổi đọc kinh Kính Đức Mẹ ở đây, cùng vài gia đình trong xóm. Không phải gì lớn lao, chỉ là cùng nhau cầu nguyện, như ngày xưa mẹ ông vẫn làm.” Lão Hớn thoáng sững người. Lão không ngờ cha lại muốn đọc kinh ngay tại nhà mình, một người có tiếng là khô đạo, lại trước bức tượng cũ kỹ ấy. “Nhưng nhận lời thì có mất mặt không nhỉ?” – lão phân vân. Rồi lão tự nhủ: “Mình có đồng ý thì cũng chẳng ai có cớ nói mình bị mụ Phớn dọa cho sợ nên quay trở lại Đạo! Đâu phải mình xin người ta đến nhà mình đọc kinh, là ông cha mở lời xin chứ? Chẳng qua là mình nể nang, với lại nghĩ đến tình làng nghĩa xóm thôi”. Chợt lão nhớ đến gương mặt vui vẻ của mẹ mỗi lần có hàng xóm đến đọc kinh, cũng trước đài Đức Mẹ ấy, và lão biết, nếu giờ mẹ lão còn ở đây, trước lời đề nghị ấy, bà sẽ rất vui vẻ nhận lời. Thế là lão nhận lời, coi như lão đang làm thay mẹ lão vậy.

Buổi đọc kinh hôm ấy diễn ra đơn sơ. Không loa đài, không hình thức. Mấy chục người ngồi quanh vườn hồng, tiếng kinh vang lên chậm rãi trong đêm miền quê tịch liêu. Lão Hớn ngồi ở cuối, tay lần tràng hạt, cũng chỉ lầm rầm đọc theo mọi người, nhưng lần đầu tiên sau rất nhiều năm, lão thấy mình không đứng ngoài cộng đồng đức tin. Và rồi từ đó, mối tương quan giữa lão và cha xứ trở nên thân thiết hơn, lúc nào đỡ công việc mục vụ, cha lại đến nhà lão thưởng trà, ngắm hoa, bàn về những vấn đề trên trời dưới biển. Lão vui lắm, bởi ở quê mà tìm được một người học thức, lại điềm đạm, “tâm đầu ý hợp” để hàn huyên tâm sự, đâu phải là chuyện đơn giản. Lâu dần, lão không còn ngại khi hỏi cha về những chuyện liên quan đến đức tin, khi thì lão lắng nghe, lúc thì lão cật vấn. Sau mỗi lần như thế, lão thấy như thể Chúa đang kéo lão đến gần Ngài hơn.

Rồi một đêm nọ, khi cả làng đã chìm vào giấc ngủ, lão Hớn vẫn trằn trọc mãi không sao chợp mắt. Cảnh đêm khuya tịch liêu gợi lên trong lão một cảm giác quen mà lạ, giống hệt những đêm rừng năm xưa, khi lão nằm ép mình dưới hố cá nhân, chờ trời sáng. Lão trở dậy, khoác chiếc áo mỏng, lặng lẽ bước ra vườn. Dưới ánh trăng lờ mờ, bức tượng Đức Mẹ cũ kỹ hiện lên lặng lẽ, hiền từ như vẫn đứng đó chờ lão suốt bao năm qua. Trong khoảnh khắc im lặng đến rợn người ấy, từng chuyện xưa cũ lần lượt hiện về: những đồng đội đã ngã xuống, những người lão từng quát nạt, khinh suất, những quyết định cứng rắn của một đời binh nghiệp mà lão vẫn tự nhủ là “vì nhiệm vụ”.... Có những chuyện, bao năm nay lão không nghĩ tới, không phải vì quên, mà vì sợ phải đối diện. Lão chợt nhận ra lão chưa từng thật sự mở lòng mình ra, cả với người mà lão biết sẽ giữ bí mật tuyệt đối là Đức Mẹ. Đọc kinh để giữ lời hứa với mẹ thì lão chưa từng thất tín, nhưng hình như như thế vẫn chưa đủ. Lão chợt nhận ra mình quá già, quá mệt mỏi, không đủ sức để tiếp tục ôm khư khư cái gánh nặng mặc cảm tội lỗi của quá khứ. Và rồi, sau một đêm trằn trọc, suy tính xem nên hay không nên, lão ngỏ ý muốn được xưng tội với điều kiện cha không được kể chuyện đó với ai. Khỏi phải nói cha bất ngờ và sung sướng đến mức nào. Cha ôn tồn, kiên nhẫn hướng dẫn lão từ đầu: xét mình ra làm sao, vào xưng tội như thế nào?... Với lão, lần xưng tội này còn hồi hộp hơn cả đêm trước khi lão vào trận đánh lớn, tuy nhiên, mọi thứ không khủng khiếp như lão vẫn tưởng tượng, trái lại, lão thấy nhẹ nhõm như trút được tảng đá nặng lâu nay vẫn đè lên tâm hồn lão.
 
Thế nhưng nếu bạn đọc nghĩ rằng vậy là lão từ đó sẽ hoàn toàn bước vào đời sống cộng đoàn, sẽ kinh lễ sớm tối, thì hãy khoan, chớ nóng vội thế. Khi cha đề cập đến bổn phận dự lễ ngày Chúa Nhật, lão có vẻ băn khoăn lắm! Nghĩ đến cái bản mặt đắc ý của mụ Phớn, vì cho rằng nhờ công lao của mụ mà “cứu được một linh hồn”, lão lại bực mình lây sang cả cha: “Không, tôi không đi lễ đâu! Bây giờ thì chưa được, tôi chưa sẵn sàng”. Cha ôn tồn: “Vâng, tôi hiểu.” Ngẫm nghĩ một hồi, lão dứt khoát: “Vậy thì cuối tuần, đàng nào tôi cũng lên thăm con cháu ở thành phố, tôi sẽ đi lễ trên đó”. Biết tính lão, nên cha cũng không làm quá, với lão cái gì cũng phải từ từ, từng bước một, nóng vội là công cốc ngay. Cha chỉ cười khổ, nghĩ về những tiếng xì xèo trong cộng đoàn, nghĩ về bà Phớn, cha thầm nghĩ: “Có những người, cứ tưởng mình nhiệt thành với việc nhà Chúa, mà không biết vì cái sự lăng xăng không đúng cách ấy, mà vô tình dựng lên thêm biết bao rào cản, ngăn người khác trở lại với Chúa.”

Mặc dù hành trình đức tin của lão Hớn còn rất gian nan, nhưng đến được bước này, đó đã là cả một phép màu rồi! Thế đó, dù tình trạng đạo nghĩa của một người có tệ hại đến đâu, chỉ cần trong tâm hồn họ vẫn còn một chút thiện lương, thì Chúa vẫn có cách để thổi bùng lên ngọn lửa đức tin đã sắp lịm tắt của họ. Đừng ai làm cho công việc đó của Chúa bị cản trở, bởi những tiếng xì xèo, những lời chỉ trích, đe dọa, nhưng bằng sự lắng nghe, tôn trọng và kiên nhẫn đồng hành, mỗi người sẽ thành khí cụ Chúa dùng để cày xới mảnh đất khô cằn kia thật kỹ lưỡng, trước khi Chúa đổ mưa và gieo hạt giống của Ngài lên trên đó.

Tác giả: Văn Hoạt

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây