Truyện ngắn: ĐOẠN VĂN KHÓ VIẾT

Thứ năm - 02/04/2026 04:29  18
chung ta co the hoc duoc gi tu phero va giuda iscariot 1“Một người đầy tớ... Một người đầy tớ gái...”

Ngòi bút của Mark lại ngập ngừng. Mỗi lần viết tới đây, ngòi bút của ông lại trở nên khó nhằn. Một người đầy tớ, lại còn là một người đầy tớ gái. Ai chịu nổi chuyện này? Một người đầy tớ đã đáng quên, một người đầy tớ gái lại còn kinh khủng hơn. Làm sao cho mọi người biết chuyện này được? Người ta sẽ cười, sẽ bàn tán, sẽ khinh khi, sẽ chẳng còn tôn trọng nữa mất. Ông lại buông bút. Ông đi ra phía cửa sổ, ô cửa sổ nhỏ và duy nhất cho cả căn phòng kín bưng này.

“Công việc này cần một chốn yên tĩnh. Con sẽ ở lại đây. Sao mẹ lại phải áy náy như vậy? Mẹ đừng lo. Con tập trung một thời gian là hoàn thành xong công việc thôi. Ở đây sẽ không ai tìm thấy con. Mẹ lo cho sức khỏe của con ư? Vậy mẹ cho người ta đục giúp con một cái cửa sổ nhỏ để thông thoáng là được. Thế là đủ cho con! Nếu bị quấy rầy, dù là con người hay vật cảnh, con chẳng thể viết lách gì cả.”

May sao, nhà Mark có chút điều kiện. Thiết kết căn phòng dành riêng cho một công việc, một công việc trọng đại, mẹ à, không phải là quá khó đối với mẹ ông. Một người nhiệt thành. May mắn cho ta là có một người mẹ nhiệt thành. Nếu không, làm sao mẹ để cho ta làm công việc này được! Ta may mắn có mẹ.

Trời đã đêm! Căn phòng càng trở nên yên ắng hơn, dù ban ngày cũng chẳng có động tĩnh gì lọt vào đây được. Mark đứng đó, nhìn trời, nhìn đất, thở dài. Không một tiếng động. Xe cộ đã nghỉ ngơi. Con người đã ngủ. Chỉ còn leo lét một vài ánh sao cô độc ở phía xa. Chỉ còn một vài tiếng người the thé, những người phải trực đêm cho cả một thành phố, dù thành phố này nhỏ đến đáng ngờ.

Ông nhìn lại chỗ giấy mà ông đã viết, đã bỏ lại. Không ít. Giấy đâu phải là thứ rẻ tiền, dễ kiếm đâu. May sao, nhà ông có chút dư giả. Mua loại giấy này không phải dễ. Ta may mắn vì có một người mẹ nhiệt thành.

Những đoạn văn dang dở lại tiếp tục chờn vờn trong suy nghĩ của Mark. Ông viết làm sao đây? Viết thật hay viết khác đi? Viết thật thì thấy nó... phèn quá! Một người đầy tớ đã đáng chê trách rồi. Một người đầy tớ gái thì càng... phèn hơn. Ai đời lại đi sợ một người không quyền lực, không độc ác, không được đếm xỉa đến thế. Vậy mà... Nhưng không viết thật thì rưng rức. Sự thật dù trần trụi thì vẫn đáng trân trọng hơn một cái đẹp được tô vẽ, lại còn tô vẽ để né tránh. Loay hoay quá! Khó nghĩ quá! Giá như có thầy ở đây để hỏi ý kiến thầy. Viết về thầy mà.

***
Người ta bắt đầu lục tục ra về. Những tiếng xầm xì đang nổ dần ra, như thể nó đã phải kìm nén rất lâu. Cho đến hiện tại, hình như nó muốn nổ ra lắm rồi, nhưng nó vẫn đang phải kìm lại. Một sức nặng đè chặt lên quả bom đang muốn nổ toang.

Tôi vẫn ngồi đó với thầy. Thầy ngồi im bưng. Thầy nhìn theo dòng người đang lục tục ra về, cười gượng. Mọi khi, thầy sẽ ra tận cửa để chào mọi người. Những cái bắt tay hồ hởi, những nụ cười tươi rạng, những tiếng cảm ơn xốn xang. Hôm nay thì khác. Một vài ánh nhìn len lén về phía thầy từ cửa. Nhìn vội, ngoảnh vội, rồi đi vội. Riêng thầy tôi không vội. Thầy nhìn theo dòng người đang vội vã. Thầy không đứng dậy và ra chào mọi người như mọi khi. Nhưng lạ là tôi không thấy thầy buồn. Thầy cười gượng, trong sự an tâm.

“Sao thầy lại đi kể huỵch toẹt một chuyện như thế ra cho mọi người? Thầy kể như vậy thì làm gì có ai muốn nghe? Bảo sao hôm nay mọi người nghe thầy giảng mà không vui vẻ gì như mọi khi. Liệu ngày mai có ai tới nghe thầy giảng nữa hay không?”

Tôi nói, khi chỉ còn tôi và thầy, mà chẳng biết bản thân đang thắc mắc hay đang trách móc thầy nữa. Tôi vẫn kính trọng thầy. Chưa bao giờ tôi dám nói với thầy như vậy. Tôi cũng đã cố kìm giọng lại, cố tỏ ra rằng mình chỉ đang thắc mắc thôi, nhưng hình như cung giọng của tôi không giấu được sự trách móc. Thầy nhìn tôi, khe khẽ cười. Vẫn gượng, nhưng vẫn an nhiên đến lạ thường.

“Con biết thầy muốn kể ra những gì là thật nhất, nhưng thầy có thể giấu đi những gì không cần thiết, nhất là chi tiết người đầy tớ gái ấy. Thật, con không hiểu! Ai cũng tôn trọng thầy là một người ở gần Chúa, nhưng sau hôm nay mọi người sẽ nghĩ như thế nào? Một môn đệ trưởng mà lại đi chối Chúa trước mặt một người tớ gái sao?”

Thầy tôi đã đứng dậy, lặng lẽ ra về. Tôi đi bên cạnh thầy. Tôi phá tan sự im lặng giữa tôi và thầy. Thầy tôi trầm ngâm. Có lẽ thầy có nhiều nỗi lòng. Thầy nhìn về phía tôi. Tôi giật thót. Tôi chợt nhận ra mình đang đi hơi quá. Giờ đến lượt tôi cúi gằm mặt xuống. Tôi không dám nhìn thầy. Tôi đang sẵn sàng nghe lời quở trách của thầy. Thầy tôi vốn nổi tiếng là người thẳng tính.

“Sao ta phải ngại ngùng kể về những điều rất thật?” Sao giọng thầy lại điềm tĩnh đến thế? “Đến giờ này ta vẫn còn sợ sệt những lỗi lầm của mình sao? Không! Mark ơi! Nếu như sợ nhìn thẳng vào lỗi lầm của bản thân thì làm sao vượt thắng được nó. Ta nên là một vị thánh nhân để giảng dạy, hay là một kẻ được xót thương để sẻ chia? Chúa đã xót thương ta. Đó là điều không ai phủ nhận được. Khởi đầu cho việc được xót thương có nên là việc nhìn nhận những lỗi lầm của bản thân mình không, Mark?”

Thầy thở dài, không phải cái thở dài của mệt mỏi mà là thở dài của buông bỏ một nỗi lòng.

“Sợ hãi là một điểm yếu của con người, và cũng là một vũ khí lợi hại của ma quỷ. Chúng biết ta sợ hãi, lẩn trốn những lỗi lầm. Như thế, ta mãi mãi ngụp lặn trong vũng lầy của tội lỗi mà thôi. Chúa cứu ta khỏi sự sợ hãi ấy. Chúa muốn ta nhận ra bản tính yếu đuối của mình, nhận ra ta cần tới lòng thương xót của Chúa để vượt thắng chúng. Điều đó quan trọng hơn danh dự, địa vị của ta chứ?”

Đôi mắt thầy tôi đã rươm rướm từ lúc nào. Có lẽ thầy đang nhớ lại ánh mắt ấy, ánh mắt nơi sảnh nhà vị thượng tế. Thầy vẫn hay kể với tôi về ánh mắt đã khiến thầy nhận ra bản tính yếu đuối của mình. Hôm nay thầy cũng kể lại cho mọi người về ánh mắt ấy. Nhưng dường như hình ảnh thầy tôi sợ sệt trước người tớ gái kia chiếm trọn lấy tâm trí của mọi người hơn. Tôi cũng giống mọi người, cũng quên đi chi tiết ánh mắt sâu thẳm ấy đã nhìn thầy tôi. Phải chăng tội lỗi, yếu đuối dễ gây ấn tượng hơn lòng thương xót?

Hình như lòng tôi đã có gì khang khác...

***

Mồ hôi ướt đẫm khắp tấm lưng trần của Peter. Ông ngồi bệt xuống đất tự bao giờ. Ông ngơ ngác nhìn xung quanh. Không ai còn để ý tới ông nữa. Những kẻ vừa bu bám quanh ông đã quên ông, đã trở lại với những câu chuyện tầm phào khác mà với họ, quan trọng hơn so với việc “ông có phải là môn đệ của ông ấy không?” Đứa đầy tớ gái vừa nãy bám riết lấy ông cũng đã biến mất. Cô ả vừa bị lôi đi, vừa lẽo đẽo theo sau bà chủ vừa bị mắng một trận tơi bời. “Con gái con đứa, ra xấm xí chỗ đàn ông làm gì hả? Sai đi gánh ít nước rửa sân mà cũng biến mất tăm. Mày không biết thân biết phận mày là ai hả? Con ở mà còn đi hóng hớt.” Thậm chí, cô ả còn không quay lại nhìn ông một lần nào.

Tiếng gà gáy vẫn còn văng vẳng. Nó vừa được cất lên. Ba lần.

Không ai còn quan tâm tới Peter, nhưng lúc này ông lại thấy bơ vơ, trơ trọi nhất. Những tiếng quát tháo ở phía giữa sân không kéo ông lại với thực tế. Ông muốn vùng lên, muốn bỏ chạy, muốn thoát ra khỏi cái không khí bùng nhùng lúc này, nhưng ông không cất nổi mình lên. Đôi chân ông bị ghè nặng, dù chẳng có cái gì đè lên. Người qua người lại không còn quan tâm tới ông. Đông đặc quá! Thậm chí, người ta còn xô, vấp, giẫm lên ông không biết thảy bao nhiêu lần. Tuyệt nhiên không ai nói gì với ông. Một lời xin lỗi cũng không. Không ai làm hại ông cả. Không ai bắt ông cả. Ông đã từng nghĩ như vậy, nhưng thực tế trái ngược hoàn toàn. Ông không chiếm quá nhiều sự chú ý.

À! Có một vài người cũng đã phải chú ý tới ông. Họ bị ông xô phải. Suýt ngã vì cú va chạm ấy. Ông đứng bật dậy, hốt hoảng, sợ hãi, run lẩy bẩy và bỏ chạy. Ông cũng không còn quan tâm tới ai. Ông cứ thẳng cửa lớn mà ra. Giờ có cả tiểu đội vây lại, ông cũng kệ. Giờ cả đám người đông đặc ở sân vây ông lại, cũng chẳng ai cản được ông. Ông bỏ chạy. Ông khóc. Người ta nghe thấy tiếng khóc thảm thiết của ông, dù tiếng ồn ã càng lúc càng đặc quánh lại trong khu sân chợp chờn ánh lửa này. Người ta bu vây lại phía giữa sân. Mình Peter bỏ chạy ra phía ngoài. Bảo sao ông va phải nhiều người đến thế. Nhưng người ta cũng chẳng quan tâm ông. Có những thứ đang diễn ra giữa sân thu hút sự chú ý của họ hơn. Những tiếng roi đòn, đấm đá, phỉ nhổ đã bắt đầu vang lên. Ồn ào. Náo nhiệt. Một vài tiếng khóc. Tiếng khóc của Peter chìm nghỉm giữa đám đông.

Không ai biết, Peter và Thầy vừa nhìn thấy nhau.

***

Tôi ngồi lại bàn viết. Những dòng chữ dở dang vẫn quay cuồng trước mắt tôi. Ngọn đèn sắp tắt rồi. Tôi cầm lấy bút, bồi hồi lần nữa, rồi nhất quyết viết. Tim tôi vẫn thình thịch đập theo từng nhịp con chữ mà tay tôi viết ra. Liều đi! Thầy đã không sợ, sao ta phải sợ?

“Người tớ gái... lại bắt đầu nói với đám đông... Ông Phê-rô bắt đầu thề thốt độc địa mà chối...”

***

Vẫn là một không khí im lìm. Giọng Mark đã chùng xuống. Cả đám người nhìn ông. Không một giọng nói. Không một tiếng thở. Mọi đôi mắt chỉ nhìn, chằm chặp, lặng yên, không mấp máy. Tim Mark khựng lại. Ông thở dài. Điều ông dự đoán đã đúng.

Mark cuộn lấy tập giấy chi chít chữ viết của mình. Bao nhiêu vết gạch, xóa, thay thế, đánh dấu. Đôi tay ông như muốn chạm lấy từng nét bút còn in hằn trên trang giấy. Đôi tay run rẩy. Miệng ông khoe khóe. Dường như ông muốn khóc. Ông khóc cho ông, cho thầy ông, hay cho tập giấy đã không còn nguyên vẹn?

Mark sẵn sàng rời khỏi căn phòng tề tựu của mọi người. Một vài người đã lánh ra để một lối đi nhỏ cho ông. Một vài người vẫn bất động, im lìm. Không ai biết họ nghĩ gì. Mark cũng không biết họ nghĩ gì. Ông đang cố lách qua đám đông kín bưng ấy, mặt cúi gằm. Ông không dám nhìn vào đôi mắt họ để biết họ đang nghĩ gì. Ông nghĩ là ông biết họ đang nghĩ gì.

“Mark! Sao ông đi vội vậy?”

Một tiếng nói bất chợt phá tan bầu khí im lặng. Mark quay lại. Người đàn ông ngồi kế bên chỗ mà Mark vừa đứng để chia sẻ về cuộc đời thầy Peter. Mark để ý người đàn ông ấy là người im lặng nhất khi ông kể lại những điều ông vừa viết về thầy Peter, nơi sảnh nhà thượng tế Caipha. Mark nhìn ông. Mọi người cũng nhìn ông.

“Cảm ơn ông!” Người đàn ông bước tới chỗ Mark đang đứng. Đôi bàn tay rắn chắc của ông ta đã bám chặt hai vai của Mark. Mark thấy rõ đôi tay ấy đang run. Đôi mắt ông ta cũng đườm đượm. “Cảm ơn ông! Ngày ấy nghe thầy Peter chia sẻ, tôi đã xúc động rất lâu. Tôi đã rất muốn hàn huyên với thầy về chuyện của đêm u buồn ấy. Nhưng thầy không còn ở lại đây lâu, nên tôi không gặp lại thầy. Rồi tôi nghe tin thầy chịu nạn. Tôi tiếc nuối lắm. Cảm ơn ông! Ông đã làm sống lại nỗi khắc khoải trong tôi. Tôi đã nghe thầy Peter giảng thật nhiều, nhưng với tôi, bài giảng về đêm ấy vẫn là bài giảng hay nhất, đáng nhớ nhất.”

Mark chưa kịp định thần lại trước sự bất ngờ ấy thì tiếng rì rào đã râm ran khắp phòng. Mọi người lần lượt đứng dậy. Mark chỉ kịp nhìn lướt qua những đôi mắt đã đỏ hoe. Không cần ai nói nhiều, Mark hiểu rằng mọi người đang hòa nhịp đồng ý với người đàn ông ấy.

“Chúng tôi đã xúc động đến mức chẳng biết phải nói gì.”

Giờ thì đến lượt Mark xúc động. Ông bật cười, không còn ngăn nổi giọt lệ đã kìm nén. Mọi người lần lượt đến ôm chầm lấy ông, bắt tay ông. Họ khóc, nhưng cũng cười.

Mark cười. Mark giật mình. Hình như ông vừa nhìn thấy thầy Peter, đứng nơi ông vừa đứng để kể lại về cuộc đời của thầy, mỉm cười, vẫy tay chào ông.

 
Sài Gòn, ngày 30 tháng 03 năm 2026

Tác giả: Quang Hải

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây