Hội Bát âm Giáo xứ Hưng Nghĩa – Hội Nghĩa Tình

Chủ nhật - 04/10/2026 04:59  48

Có những âm thanh vừa cất lên đã gợi nhớ một miền quê, một mái nhà, một dòng người thân thuộc. Với người Hưng Nghĩa, tiếng Bát Âm không chỉ là tiếng nhạc trong ngày lễ, ngày hội; nhưng còn là tiếng vọng của bao thế hệ, là nhịp nối giữa đạo với đời, giữa niềm vui và nỗi buồn, giữa những con người cùng chung một quê hương, một đức tin.

Hội Bát Âm đầu tiên của Hưng Nghĩa được thành lập năm 1920. Từ buổi đầu ấy đến nay, trải qua bao đổi thay, tiếng nhạc vẫn tiếp tục ngân vang, mang theo dấu ấn của những người đi trước và tâm huyết của những người hôm nay. Mỗi nhịp trống, tiếng kèn, cung đàn như chở trong mình một phần ký ức làng quê. Bao người đã đến rồi đi, bao thế hệ đã nối tiếp nhau, nhưng tình yêu dành cho tiếng nhạc và niềm tự hào về Hội vẫn còn nguyên vẹn.

Tràn đầy tình Chúa

Nhắc đến Hội Bát Âm Hưng Nghĩa, người ta nhớ ngay đến những cuộc rước trang trọng, sốt sắng. Từ lâu, trong những ngày đoàn người cung nghinh Đức Mẹ, Hội Bát Âm dường như chưa bao giờ vắng bóng. Hội luôn đi liền trước kiệu Đức Mẹ, dâng lên Mẹ những khúc nhạc lưu thủy réo rắt, dìu bước cộng đoàn trong lời kinh và niềm tin.

Tiếng nhạc ấy không đơn thuần làm cho cuộc rước thêm rộn ràng, nhưng còn giúp lòng người hướng về điều thiêng liêng. Âm nhạc có thể nói thay những tâm tình mà đôi khi ngôn từ khó diễn tả: lời tạ ơn, niềm cậy trông, lòng yêu mến và ước nguyện phó thác. Trong phụng vụ, âm nhạc có thể nâng đỡ lời cầu nguyện và hiệp nhất cộng đoàn; còn trong cuộc rước, tiếng nhạc Bát Âm trở thành một lời cung kính được dâng lên cùng bước chân của đoàn con cái. (x. Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo,  1191)

Bởi thế, câu ca truyền tụng trong cộng đoàn nghe thật thân thương:

Muôn thuở ngàn sau đời vẫn thế,
Khúc nhạc thủy lưu Bát Âm rước Đức Bà.

Hai câu thơ như gói trọn một truyền thống: tiếng nhạc còn vang thì hình ảnh đoàn rước Đức Bà vẫn còn sống động trong lòng người Hưng Nghĩa; thế hệ này trao lại cho thế hệ sau không chỉ một cung nhạc quen thuộc, mà cả lòng yêu mến Mẹ và tình gắn bó với quê hương.

Chan chứa tình người

Nếu trong ngày vui, Hội Bát Âm góp tiếng nhạc làm sáng lên niềm hân hoan, thì trong ngày tang, Hội lại đến bên những người đang đau buồn bằng một sự hiện diện lặng lẽ mà đậm tình. Những cung lâm khốc cất lên thay cho nỗi lòng của tang quyến. Có những mất mát khiến người ta nghẹn lời, những giọt nước mắt không thể kể hết thành câu. Khi ấy, âm nhạc không xóa được đau thương, nhưng có thể giúp nỗi đau được sẻ chia, để người ở lại cảm nhận mình không đơn độc.

Hội đến phục vụ với tâm thức “người nhà tang quyến”: không xem đó là việc của người ngoài, càng không coi là một buổi trình diễn, nhưng là dịp để cùng cúi xuống trước nỗi đau của anh chị em mình. Trong nghi thức an táng, âm nhạc có thể diễn tả những tâm tình vượt quá lời nói, an ủi người than khóc và củng cố sự hiệp nhất của cộng đoàn trong đức tin và tình yêu. (x. Nghi thức Tang lễ Kitô giáo, Dẫn nhập Tổng quát, 30)

Điều đáng quý là sự phục vụ ấy không chỉ nằm ở tiếng nhạc. Đó còn là tấm lòng biết đến, biết ở lại, biết đặt nỗi đau của người khác gần với lòng mình. Tiếng kèn, tiếng trống, tiếng đàn trong ngày tang vì vậy mang một âm sắc riêng: trang trọng mà xót thương, sâu lắng mà không tuyệt vọng. Trong niềm tin Kitô giáo, lời tiễn biệt người đã khuất cũng hướng lòng người về mầu nhiệm Đức Kitô chịu chết và sống lại, để giữa nước mắt vẫn còn ánh sáng của niềm cậy trông. (x. Nghi thức Tang lễ Kitô giáo, Dẫn nhập Tổng quát, 30)

Nghĩa tình đặt trên lịch trình

Năm nay, Hội đã ấn định ngày tổ chức Đại Hội. Nhưng khi có đám tang, anh chị em trong Hội cùng nhìn về một ưu tiên chung: người đang cần được phục vụ. Hội đã lùi chương trình sang buổi chiều để thuận tiện lo việc tang, đồng thời giúp mọi người có thời gian đến thăm viếng, chia sẻ niềm cảm thông và giữ tình hiệp thông với tang quyến.

Một sự điều chỉnh tưởng nhỏ, nhưng nói lên điều rất lớn. Đại Hội có thể dời lại; nỗi đau của một gia đình thì không thể chờ. Niềm vui riêng của Hội được đặt sau nhu cầu của cộng đoàn, bởi tinh thần “mọi người vì một người” không chỉ là một câu nói đẹp, mà là cách sống biết nhường bước, biết hy sinh điều mình mong đợi để nâng đỡ người khác.

Chính trong lựa chọn ấy, nét đẹp của Hội hiện rõ hơn cả trong những lúc đông vui. Một tập thể nghĩa tình không chỉ được đo bằng số năm tồn tại hay những buổi trình diễn thành công, mà còn bằng cách đối xử với nhau khi ai đó gặp biến cố. Hội Bát Âm Hưng Nghĩa đã chọn hiện diện trước nỗi buồn, và bằng sự hiện diện ấy, làm cho tình làng nghĩa xóm trở nên gần gũi, cụ thể.

Tiếng nhạc nối dài tình nghĩa

Hội Bát Âm còn là một mái nhà chung, nơi người đi trước truyền lại cho người đi sau không chỉ kỹ thuật và bài bản, mà cả đức tính tận tụy, kỷ luật, khiêm nhường và tinh thần phục vụ. Những người cùng tập luyện, cùng đi rước, cùng phục vụ trong ngày tang sẽ hiểu nhau bằng những điều giản dị: một tiếng gọi, một nhịp chờ, một lần cùng gánh vác. Từ đó, tiếng nhạc không chỉ kết nối các nhạc công, mà còn góp phần kết nối những gia đình và thế hệ trong cộng đoàn.

Bởi vậy, Hội Bát Âm Đền Thánh Hưng Nghĩa xứng đáng được gọi là Hội Nghĩa Tình. Tình Chúa nâng tiếng nhạc bay lên trong những cuộc rước Đức Mẹ; tình người đưa bước chân Hội đến bên những mái nhà có tang. Khi vui, Hội cùng cộng đoàn cất lời ca ngợi; khi buồn, Hội lặng lẽ chia sẻ nỗi niềm. Và khi cần chọn giữa chương trình của mình với nhu cầu của người khác, Hội biết nhường lại thời gian, để tình nghĩa được lên tiếng trước.

Mong sao tiếng Bát Âm Hưng Nghĩa còn ngân dài qua bao thế hệ—không chỉ bởi những cung đàn lưu thủy quen thuộc, mà bởi tấm lòng thủy chung với Chúa, với Đức Mẹ và với con người. Bởi sau cùng, điều làm nên âm thanh đẹp nhất không chỉ là tiếng nhạc được tấu lên, mà là tình nghĩa được sống và được trao đi.

Tác giả: Giuse Lương Ân Thắng

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây