Một lối nhìn mục vụ cho người đồng tính

Chủ nhật - 08/02/2026 23:22  17
phap luat hon nhan va gia dinh 550x356Chúng ta đang sống trong một thế giới phức tạp, hay đúng hơn, chính con người làm cho thế giới vốn đã phức tạp lại càng trở nên phức tạp hơn, đồng thời cũng làm cho chính mình, một hữu thể quá ư huyền nhiệm, lại càng trở nên bí ẩn và khó hiểu hơn bao giờ hết. Kinh Thánh mạc khải cho chúng ta biết ngay từ thuở ban đầu, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Ngài. Ngài sáng tạo con người có nam, có nữ (x. St 1,27) và Ngài chúc lành cho cuộc hôn nhân đầu tiên, cũng như mọi cuộc hôn nhân khi “người nam sẽ rời bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”(x. St 2,24). Như thế, ngay từ thuở ban đầu, hôn nhân là sự kết hợp giữa một nam và một nữ.

Tuy nhiên, tội lỗi không chỉ làm cho con người hướng chiều về điều xấu, nhưng còn làm cho mối dây liên kết một nam một nữ thuở ban đầu trở nên lỏng lẻo, mong manh, thậm chí bị biến thái (x. St 3). Con người nổi loạn chống lại Thiên Chúa, chống lại mọi thực tại thuộc về trật tự tự nhiên nơi thế giới, và hơn nữa chống lại trật tự tự nhiên trong chính con người của mình. Hệ quả là con người không chỉ trở nên xa cách với Thiên Chúa, xa lạ với thiên nhiên, mà còn đánh mất sự hòa hợp với đồng loại và chính mình. Hệ quả không chỉ dừng lại ở việc phá vỡ trật tự tự nhiên bằng hận thù, chia rẽ, chiến tranh, bạo lực, chết chóc, nhưng đi xa hơn, con người còn làm rối loạn, sai hỏng trật tự trong chính con người mình, đặc biệt trong vấn đề tính dục và xu hướng tính dục. Dẫu vẫn biết con người chịu ảnh hưởng của tính dục một cách rất sâu xa đến nỗi tính dục phải được xem như một trong các yếu tố làm nên nét chính yếu của đời sống mỗi cá nhân, và là nét phân biệt người này với người khác. Thật vậy, chính từ tính dục mà con người tiếp nhận các đặc tính, mà trên bình diện sinh học, tâm lý, và thiêng liêng làm thành con người là nam hay là nữ… Thế nhưng, trong giai đoạn hiện tại, sự tha hóa luân lý gia tăng, và một trong các dấu chỉ nghiêm trọng nhất của sự tha hóa này là sự tán dương tình dục một cách buông thả.[1] Sự rối loạn trong vấn đề tính dục ấy không chỉ kéo theo sự buông thả tính dục ngoài hôn nhân giữa người nam với người nữ, nhưng còn kéo theo một hiện tượng nhiễu nhương hơn nhiều, đó là đồng tính luyến ái (ĐTLA), một điều mà Giáo Hội Công giáo luôn khẳng định là vô trật tự tự bản chất[2].

Trong chiều hướng đó, ĐTLA trở thành một vấn đề mục vụ rất phức tạp của thời đại, mà thiết tưởng không chỉ các mục tử, nhưng tất cả mọi thành phần Giáo Hội cần hiểu biết, ít là ở mức căn bản về vấn đề này để từ đó, mỗi người có thái độ đúng đắn, chuẩn mực và đầy thương xót trong việc tiếp cận mục vụ và đồng hành với những anh chị em đã, đang hoặc có xu hướng sống trong tình trạng đầy đau khổ này.

 
1. ĐTLA – Một thực tại của thời đại

ĐTLA là một hiện tượng phức tạp, một hiện tượng ngày càng lan rộng trên thế giới hiện nay và trở thành một thực tại của thời đại không thể phủ nhận. Đây là vấn đề vừa tế nhị, vừa hết sức phức tạp. Tế nhị vì nếu trình bày không khéo, rất dễ bị quy tội kì thị và phân biệt đối xử. Phức tạp vì vấn đề này đặt ra nhiều câu hỏi và gây nên những tranh luận gay gắt về y học, nhân học, xã hội kể cả pháp lý.[3]
           
Như chúng ta biết, hành vi ĐTLA không phải là điều gì mới lạ trong thời hiện đại, nhưng là một hiện tượng có thực và từ lâu đời, không thể phủ nhận và cũng chẳng thể dửng dưng. Hơn nữa, cung cách này đã xuất hiện trong nhiều nền văn hóa và từng được ghi lại trong sử sách và trong Kinh Thánh. Không dừng lại ở đó, ĐTLA cũng là một vấn đề mang tính thời sự, gây tranh luận ngày càng lớn, nhất là trong vòng vài chục năm nay – tranh luận không những về mặt luân lý, tôn giáo, phong hóa, mà cả về mặt khoa học, tư pháp, chính trị và xã hội.[4] Theo đó, cho đến nay vẫn chưa thể có một định nghĩa rõ ràng, chính xác về ĐTLA, bởi tính phức tạp của nó, dù có vài cách định nghĩa thông thường được dùng để nói về người đồng tính luyến ái. Nhưng nói chung, một người đồng tính luyến ái, một cách cơ bản, là người dửng dưng với sự hấp dẫn thể lý của người khác giới và nghiêng chiều một cách vững bền và chủ yếu để tìm kiếm sự thỏa mãn tình dục và/hay thỏa mãn tình cảm và hạnh phúc trong tương quan với người cùng giới.[5] Đó cũng có thể là những liên hệ giữa những người nam hay những người nữ, cảm thấy sự hấp dẫn tính dục, độc chiếm hoặc vượt trội đối với những người cùng phái tính.[6]

Cũng chính vì sự phức tạp của hiện tượng ĐTLA mà việc nhận biết nguyên nhân, hay nguồn gốc của ĐTLA cũng trở thành một vấn đề nhiễu nhương và gây nhiều tranh cãi. Dẫu vậy, sau khi nghiên cứu các lý thuyết và giả thuyết đối lập nhau về nguồn gốc ĐTLA, Dale O’Leary khám phá ra rằng tất cả đều có thể cô đọng lại vào một trong ba cách tiếp cận triết học cơ bản: Yếu tính luận, Cấu trúc luận và Phát triển luận.[7] Theo đó, các nhà hoạt động đồng tính thường dựa vào hai cách tiếp cận đầu tiên để biện minh cho việc ủng hộ hành vi đồng tính cũng như hôn nhân đồng tính. Họ cho rằng người ĐTLA là do bẩm sinh, hay Thiên Chúa dựng nên đã là người ĐTLA và không thể thay đổi. Từ đó, họ phát triển một huyền thoại về gen đồng tính, để rồi cùng với truyền thông họ khá thành công trong việc tuyên truyền và đòi hỏi những yêu sách của họ[8]. Tuy nhiên, không hề có một nghiên cứu khoa học nào chứng minh được rằng ĐTLA có nguyên nhân thực sự mang tính sinh học hay di truyền, cũng như loại trừ khả năng một dạng nguyên nhân thô thiển dựa trên cấu trúc gia đình.[9]

Dẫu không có một bằng chứng thuyết phục nào về nguyên nhân ĐTLA như vẫn được tuyên truyền trên sách báo hay các phương tiện thông tin đại chúng, nhưng trong một thời đại mà sự buông thả, cùng sự tự do quá chớn được bợ đỡ bởi những phong trào cực đoan về giới tính, cùng sự hỗ trợ đắc lực của kĩ nghệ nơi mạng xã hội và truyền thông khuynh tả, ĐTLA đang trở thành một phong trào, thậm chí một “mốt sống” và ngày càng lớn mạnh. Đặc biệt, những nhà đấu tranh cho giới đồng tính, với ý thức hệ cánh tả về giới tính[10] không ngừng kêu gọi thay đổi bản chất của hôn nhân, cũng như tạo áp lực, yêu cầu các chính phủ, tôn giáo phải chấp nhận đồng tính và hôn nhân đồng tính như là một xu hướng tự nhiên, một quyền căn bản của con người. Để tăng tính thuyết phục, cánh tả về giới tính đặc biệt sử dụng ngôn ngữ thanh tao dối trá trong công cuộc tuyên truyền của họ, che giấu đi những yếu tố mang tính then chốt hơn trong chương trình hành động của họ đằng sau chiến lược quảng bá công khai được sắp đặt kĩ lưỡng và những chương trình được thiết kế bề ngoài để chăm sóc sức khỏe, “lòng bao dung”, “tính đa dạng”, hoặc những thái độ “không phán xét”…[11] Từ đó, có những người đồng tính còn muốn liên kết thành những lực lượng, phong trào để lôi kéo thành viên bành trướng ảnh hưởng, đấu tranh giành quyền lợi mà họ cho là chính đáng của họ.[12]

Cách riêng, ở Việt Nam, hiện chưa có một con số chính xác về người đồng tính, vì chưa có một thống kê chính thức quy mô và toàn diện. Tuy nhiên, theo một số nghiên cứu, chẳng hạn như một nghiên cứu do tổ chức phi chính phủ CARE thực hiện, Việt Nam có khoảng 50- 155 ngàn người đồng tính, chiếm khoảng 0,06- 0,15% dân số.[13] Dù đã có một số nghiên cứu khác về hiện tượng này, nhưng nhìn chung tỉ lệ người đồng tính hoàn toàn không đúng với huyền thoại 10% dân số ĐTLA mà cánh tả về giới tính vẫn tuyên truyền[14].

2. Giáo Hội với “người” ĐTLA và “hành vi” ĐTLA

Mặc dù hầu như mọi xã hội và thời đại đã qua, lối sống ĐTLA bị coi như thể không chấp nhận được, là vô luân, coi như là dấu hiệu của sự yếu nhược, không hợp tự nhiên,[15] nhưng trong những năm gần đây, qua các phương tiện truyền thông xã hội và qua các giải trí công cộng, các phong trào ủng hộ ĐTLA khá thành công trong việc tuyên truyền, đến mức xâm nhập vào lĩnh vực giáo dục và cả tôn giáo, gây ô nhiễm não trạng chung. Để rồi, họ tạo áp lực, thậm chí buộc một số quốc gia hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Hậu quả kéo theo là trong vài năm, các giáo huấn, các tiêu chuẩn luân lý và lối sống của Giáo Hội vốn được gìn giữ một cách trung thành từ trước đến nay đã bị lung lay, ngay cả trong số các Ki-tô hữu. Theo đó, khi chạm trán với các ý kiến rộng rãi đối nghịch với giáo huấn mà họ đã đón nhận từ Giáo Hội Công giáo, đã đi đến chỗ tự hỏi điều gì vẫn phải giữ lại như là chân thật.[16]

Đứng trước sự tha hóa luân lý gia tăng, mà trong đó ĐTLA là một hiện tượng điển hình, Giáo Hội không thể dửng dưng trước sự lẫn lộn này của đầu óc và sự thả lỏng của luân lý. Thật vậy, đây là vấn nạn của một vấn đề quan trọng cả cho đời sống cá nhân của các Ki-tô hữu và cũng như cho đời sống xã hội thời đại chúng ta[17]. Theo đó, quan điểm luân lý Công giáo đặt nền trên lý trí con người được soi sáng bởi đức tin, và được tác động một cách có ý thức bởi ước muốn thực thi ý Thiên Chúa là cha chúng ta[18] luôn nhất quán trong lập trường của mình về vấn đề ĐTLA. Theo đó, Giáo Hội khẳng định chỉ trong tương quan hôn nhân mà việc sử dụng năng lực tính dục có thể là tốt lành về mặt luân lý. Vì thế, một người thực hiện hành vi ĐTLA là hành động không hợp luân lý. [19] Giáo huấn của Giáo Hội ngày nay là sự tiếp nối với quan điểm Kinh Thánh và với Thánh Truyền vẫn kiên định và không thay đổi: “Dựa trên Thánh Kinh, vốn xem ĐTLA như những suy đồi nghiêm trọng, truyền thống Hội Thánh luôn tuyên bố: “Các hành vi ĐTLA tự bản chất là vô trật tự”. Chúng nghịch với luật tự nhiên… Những hành vi này không thể chấp nhận được trong bất cứ trường hợp nào”[20] Từ đó, Giáo Hội kiên định trong việc phản đối hôn nhân đồng tính, coi đó một vấn đề bất khả nhượng trong giáo huấn của mình.

Tuy nhiên cần phải hiểu chính xác quan điểm, cũng như giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề này. Do đó, hẳn nhiên điều cần nói đến ở đây là phải phân biệt giữa hành vi tính dục với khuynh hướng tính dục, giữa người ĐTLA với người ủng hộ hoặc thực hiện hành vi ĐTLA. Theo đó, hành vi tính dục phần lớn xuất phát từ sự lựa chọn có ý thức, còn khuynh hướng tính dục của một người thì không như vậy. Người ta không chọn cho mình khuynh hướng tính dục. Không ai hình thành một cách đơn giản trí khôn để họ trở thành người khác giới luyến ái hay đồng tính luyến ái. Phân biệt như thế giúp chúng ta hiểu kinh nghiệm về ĐTLA riêng rẽ và trong thời kỳ nhất định không có nghĩa là người ấy ĐTLA. Cũng vậy, một người có thể có khuynh hướng đồng tính nhưng không dấn thân thực hiện các hành vi đồng tính. Khuynh hướng này phức tạp và có thể bị điều kiện hóa bởi một số điều kiện tâm sinh lý, hoàn cảnh mỗi người. Trái lại hành vi đồng tính có thể được tự do lựa chọn. Do đó, người ĐTLA không có trách nhiệm về khuynh hướng đó của họ, song chắc chắn phải chịu trách nhiệm về hành vi ĐTLA trong sự chọn lựa tự do của mình.[21]

Tóm lại, dù rằng gần đây, Tuyên ngôn Fiducia Supplicans của Bộ Giáo lý đức tin về ý nghĩa mục vụ của các chúc lành có gây ra một số tranh cãi, nhưng lập trường truyền thống và hiện thời của Giáo Hội Công giáo Rô-ma về vấn đề ĐTLA có thể tóm tắt như sau: Giáo Hội không lên án, mà còn thương cảm và đón nhận những người có khuynh hướng đồng tính, nhưng kết án hành vi đồng tính vì nó trái với luật Tự Nhiên, trái với kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người từ lúc khởi đầu tạo dựng. Hành vi đồng tính không được chấp nhận trong mọi hoàn cảnh. Người có khuynh hướng này được mời gọi sống khiết tịnh, tiết chế các hành vi tình dục sai trái. Cùng với đó, Giáo Hội cũng khẳng định hôn nhân chỉ hợp pháp khi liên kết giữa một người nam và một người nữ.[22] Theo đó, hôn nhân đồng tính phá vỡ cấu trúc truyền thống của gia đình và do đó, Giáo Hội phủ nhận tính hợp pháp của hôn nhân đồng tính.[23]

3. Vài điểm mục vụ với những anh chị em ĐTLA

Chúng ta không phủ nhận ĐTLA là một vấn đề nhạy cảm, cách riêng tại Việt Nam và với văn hóa Việt, thì ĐTLA dường như ít được bàn tới, thậm chí né tránh đơn giản bởi việc thừa nhận bản thân là người đồng tính không dễ dàng vì nhiều nguyên nhân.[24] Tuy nhiên, trong xu thế phát triển của xã hội, nhất là trào lưu tục hóa đang ngày một xâm nhập và tác động mạnh tại Việt Nam, hiện tượng ĐTLA ngày càng trở nên phổ biến, công khai, nhất là nơi giới trẻ, nhờ sự lập lờ của pháp luật[25], cũng như sự bùng nổ công nghệ số và truyền thông. Hệ quả là nhiều người thiếu hiểu biết được dẫn dắt bởi những kẻ cực đoan về giới tính, đã lợi dụng để tuyên truyền, để kêu gọi những phong trào đòi hỏi những quyền lợi cho người đồng tính, nhất là hợp thức hóa hôn nhân đồng tính. Tệ hơn, những trào lưu này còn thổi phồng hay tung tin sai lạc về sự kì thị, loại trừ người đồng tính của các tôn giáo, đặc biệt là Ki-tô giáo. Điều đó gây nên cho Giáo Hội Công giáo những khó khăn, thách đố trong việc tiếp cận mục vụ và đồng hành với người đồng tính, bởi Giáo Hội dù không loại trừ người đồng tính, nhưng cũng không thể chấp nhận những đòi hỏi quá đáng nghịch lại luật Tự Nhiên và giáo huấn chính thống của Giáo Hội, đặc biệt trong việc yêu cầu định nghĩa lại hôn nhân.

Tuy nhiên, không phải vì khó khăn, mà Giáo Hội dửng dưng hay chạy trốn thực tại phức tạp này, hay tệ hơn là loại trừ, buông xuôi mặc kệ những anh chị em ĐTLA. Trái lại, Giáo Hội luôn đồng cảm với những người đồng tính, mời gọi họ tham gia đời sống xã hội và Giáo Hội như là những chi thể trong Thân Thể Mầu Nhiệm của Đức Ki-tô. Quả vậy, sứ vụ của Giáo Hội cho các người ĐTLA luôn là một sứ vụ mục vụ. Nó không chỉ đơn thuần lặp lại thách thức Đức Ki-tô đặt để cho một thế hệ; nó tìm kiếm để làm việc với từng cá nhân, xem xét sức mạnh và yếu đuối của từng người, và giúp cá nhân thực hiện trách nhiệm một cách trọn vẹn có thể trong từng tình huống giây phút cuộc sống. Các mục tử và người tư vấn phải nhạy cảm đối với các biến động bên trong, có thể là phần kinh nghiệm của những người đồng tính.[26] Đồng thời, bằng sự khôn ngoan và trái tim mục tử, Giáo Hội mời gọi các mục tử, những người đồng hành trước là phải tìm hiểu để có sự hiểu biết về ĐTLA và nắm vững giáo huấn của Giáo Hội về vấn đề này. Nhờ đó, các mục tử và mọi thành phần dân Chúa có thể tiếp cận, đồng hành để thực thi lòng thương xót, thể hiện tình yêu, sự bao dung đối với những anh chị em đang phải sống trong tình trạng ấy. Trong chiều hướng đó, người viết mạn phép đưa một số đề nghị mang tính nguyên tắc thực hành trong việc tiếp cận mục vụ đối với người ĐTLA.

Đồng cảm để vượt qua mặc cảm      

Chúng ta không thể hiểu hết tâm lý của những anh chị em ĐTLA, bởi mỗi hoàn cảnh đều có thể kéo theo một thế giới tâm lý khác nhau. Nhưng chắc chắn chúng ta không thể phủ nhận sự mặc cảm, tự ti, đau khổ, nỗi sợ hãi mà nhiều anh chị em đồng tính phải đối diện và trải qua, nhất là khi những anh chị em ấy từng là nạn nhân của một sự lạm dụng hay kì thị nào đó; hoặc không được hiểu biết đầy đủ, chính xác giáo huấn của Giáo Hội đối với họ; cũng như không cảm nhận được tình yêu và lòng thương xót của những người hữu trách, nếu không muốn nói là những ánh mắt sự kì thị, thái độ rẻ rúng, thậm chí loại trừ những người có xu hướng hay đang sống trong tình trạng ĐTLA. Hệ quả là nhiều anh chị em đồng tính sẽ mặc cảm, co cụm, hay rời xa Giáo Hội, thậm chí đi xa hơn là chống đối Giáo Hội.

Do đó, với xác tín mọi Ki-tô hữu đều là chi thể Nhiệm Thể Chúa Ki-tô, và là anh chị em của nhau, mà trong đó không loại trừ  cả những anh chị em ĐTLA, chúng ta cần đồng cảm, đón nhận, tôn trọng, bao dung với những anh chị em đang phải sống trong tình trạng đau khổ ấy. Để rồi, loại bỏ hoàn toàn ánh mắt kì thị, thái độ coi thường, não trạng phân biệt đối xử, dù đôi khi đó là một phản ứng tự nhiên, nhưng thay vào đó là trái tim thông cảm, tế nhị, tránh bất cứ dấu hiệu phân biệt đối xử bất công nào với họ.[27] Nhờ đó, những anh chị em này có thể từng bước vượt qua được rào cản của sự mặc cảm, dần cảm nhận được lòng thương xót của Thiên Chúa thể hiện nơi Giáo Hội, mà trong đó có chúng ta. Nhờ đó, họ có thể can đảm sống đúng giáo huấn của Giáo Hội, trở nên thành phần nhiệt thành của cộng đoàn và anh chị em của chúng ta trong gia đình của Thiên Chúa.

Tôn trọng, không thỏa hiệp
           
Giáo Hội tôn trọng người đồng tính, bởi họ cũng là một nhân vị, là hình ảnh của Thiên Chúa. Do đó, Giáo Hội luôn mời gọi người đồng tính tham gia đời sống của Giáo Hội, bằng cách sống đúng căn tính Ki-tô hữu của mình. Đồng thời, Giáo Hội đồng hành để giúp họ vượt qua và chữa lành những rối loạn ấy nếu có thể. Hoặc nếu là một khuynh hướng thâm căn, thì “những người ĐT được kêu gọi giữ sự khiết tịnh. Nhờ các nhân đức giúp tự chủ dạy cho biết tự do nội tâm và có khi nhờ sự nâng đỡ của tình bằng hữu vô vị lợi, nhờ việc cầu nguyện và ân sủng bí tích, chính họ có thể và phải dần dần và cương quyết tiến đến sự trọn hảo Kitô giáo”.[28]

Tuy nhiên Giáo Hội không thể đi ngược với giáo huấn của mình mà thỏa hiệp với những phong trào đấu tranh cho người đồng tính, nhất là đồng thuận để cho phép thực hiện hành vi đồng tính, hay tệ hơn là hôn nhân đồng tính. Mặc dù, Giáo Hội luôn tôn trọng sự khác biệt, sự khó khăn, những đau khổ mà những người đồng tính hay có xu hướng đồng tính phải đối diện và đấu tranh, nhưng luôn cứng rắn và dứt khoát trong các vấn đề liên quan đến giáo huấn ngàn đời vững chắc của mình. Theo đó, Giáo Hội dạy rằng sự tôn trọng đối với những người đồng tính dù thế nào cũng không thể dẫn tới việc ủng hộ hành vi đồng tính hay công nhận tính hợp pháp của việc kết hợp đồng tính.[29] Trong những hoàn cảnh mà các cuộc kết hợp đồng tính được luật pháp công nhận hoặc cho hưởng quy chế và quyền pháp định hôn nhân, chúng ta có bổn phận phải bày tỏ sự phản kháng rõ ràng và quyết liệt của mình. Phải tránh mọi hình thức cộng tác làm cho thứ luật bất chính ấy thành có hiệu lực và được đem áp dụng, phải hết sức tránh cộng tác trong thực tế vào việc áp dụng thứ luật ấy. Về phương diện này mọi người có thể thực thi quyền phản đối của lương tâm.[30]

Đồng hành, không đồng lõa

Chúng ta biết rằng Giáo Hội không bao giờ nhẫn tâm. Đúng là lập trường rõ ràng của Giáo Hội, không thể được cứu xét dưới áp lực của luật pháp dân sự hay các trào lưu. Nhưng Giáo  hội thực sự quan tâm về số đông người không được đại diện bởi phong trào ủng hộ đồng tính luyến ái và về những người có thể bị cám dỗ tin vào sự tuyên truyền dối trá của nó.[31] Theo đó, Giáo Hội mời con cái mình đồng hành để cùng đi với những anh chị em đồng tính hoặc có xu hướng đồng tính. Thật vậy, Giáo Hội luôn mở rộng vòng tay ôm ấp tất cả mọi người, ngay cả những người tội lỗi, để rồi như một người mẹ, Giáo Hội mở rộng tấm lòng để chăm sóc và yêu thương, cách riêng với người đồng tính. Để rồi, nhờ sự đồng hành trong sự tôn trọng, không kì thị, không kết án, không xúc phạm mà yêu thương, tế nhị, người ĐTLA sẽ nhận ra khuôn mặt một Thiên Chúa luôn yêu thương, và ban đủ ơn để họ sống đúng giáo huấn của Giáo Hội.

Dẫu vậy, Giáo Hội không chấp nhận thái độ đồng lõa của bất cứ ai, dù đó là những vị lãnh đạo trong Giáo Hội, những người không chỉ ủng hộ hôn nhân đồng tính, ủng hộ việc thực hiện hành vi đồng tính, mà nguy hại hơn là đồng lõa trong việc cùng thực hiện những hành vi đó…

Đón nhận, không chấp nhận

Giáo Hội không loại trừ ai, ngay cả người đồng tính. Quả thật Giáo Hội thường bị mang tiếng và trở thành mục tiêu tấn công của các phong trào LGBT cực đoan. Họ tuyên truyền sai lạc rằng Giáo Hội và người Công giáo kì thị, không đón nhận, thậm chí loại trừ, tấn công những người đồng tính khi giáo huấn Giáo Hội lên án hành vi đồng tính và không chấp nhận hôn nhân đồng tính. Đó là một sự ngụy biện trắng trợn, vô căn cứ. Thay vào đó, Giáo Hội luôn đón nhận tất cả mọi người không phân biệt màu da sắc tộc, tôn giáo và đương nhiên không bao giờ Giáo Hội loại trừ những anh chị em đồng tính có thiện chí muốn sống ơn gọi Ki-tô hữu. Giáo Hội luôn mở rộng vòng tay ôm ấp tất cả để yêu thương, để chữa lành…

Trái lại, Giáo Hội luôn cứng rắn và bảo vệ học thuyết của mình về hành vi đồng tính. Những anh chị em đồng tính hay có xu hướng đồng tính, tự bản chất họ không có tội, nhưng nếu họ thực hành hay ủng hộ việc thực hành hành vi đồng tính, nhất là đòi quyền hợp pháp hôn nhân đồng tính, thì chắc chắn Giáo Hội không bao giờ chấp nhận. Đó là Giáo lý ngàn đời và có căn cứ rõ ràng, Giáo huấn mang tính bản chất của Giáo Hội, mà nếu thay đổi, chắc chắn Giáo Hội sẽ sụp đổ từ tận gốc rễ.
 
Cuối cùng… mỗi chúng ta hãy là người Samaria nhân hậu

Vào tháng 7 năm 2021, Đức cố Giáo hoàng Phan-xi-cô, trong một bức thư gửi cho một linh mục làm việc đặc biệt trong việc mục vụ chăm sóc đối với người đồng tính, đã tuyên bố rằng “Thiên Chúa luôn gần gũi mỗi người con của Ngài cách yêu thương. Trái tim của Ngài mở ra cho mọi người và mỗi người. Ngài là Cha.”[32]

Như thế, Đức Thánh Cha khẳng định như Thiên Chúa là Cha luôn gần gũi và ôm ấp tất cả mọi người thì Giáo Hội, như người Mẹ cũng luôn bao dung chào đón mọi người, kể cả những anh chị em đồng tính vào cộng đoàn, dù không bao giờ chấp nhận sự bao biện của những phong trào cực đoan ủng hộ ĐTLA. Thay vào đó, Giáo Hội mời gọi mọi người không phân biệt thành phần biết mở đôi tay nâng đỡ anh chị em đồng tính, để họ có thể sống đúng ơn gọi làm người và là Ki-tô hữu trong hoàn cảnh sống đặc thù của mình, hoặc đồng hành để giúp họ thoát khỏi sự lôi kéo của các phong trào cực đoan về giới, cũng như có thể được chữa lành để thoát khỏi khuynh hướng này, bởi thực tế cho thấy hầu hết người đồng tính hoặc có xu hướng đồng tính đều chỉ là một sự rối loạn và hoàn toàn có thể chữa lành.

Tắt một lời, dẫu biết việc mục vụ cho người đồng tính không phải dễ dàng, bởi nơi họ vẫn còn có quá nhiều khác biệt, đôi khi sự mặc cảm, sự đau khổ… Chính vì thế, thiết tưởng mỗi chúng ta hãy mặc lấy tâm tình, hay đúng hơn hãy trở thành những người Samaria nhân hậu của thời đại hôm nay, trở thành những người thân cận biết cảm thông, gần gũi anh chị em mình. Để rồi, cũng như người Samaria tốt lành, chúng ta cũng biết chạnh thương, cúi xuống cứu giúp những anh chị em đang phải sống trong những cảnh huống đầy đau khổ, đưa họ về quán trọ Giáo Hội. Nhờ đó, với phương dược linh nghiệm từ người thầy thuốc toàn năng và thương xót là Đức Ki-tô, những anh chị em đau khổ ấy sẽ được chữa lành, được phục hồi phẩm giá và trở nên anh chị em của chúng ta trong gia đình của Thiên Chúa, nơi có tình yêu và hạnh phúc đời đời…
 

[1] Cf. Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến tính dục (1975), mục I, trích trong Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 14-15
[2] Sách giáo lý Hội thánh công giáo, số 2357
[3] Cf. Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, Lời giới thiệu của Đức Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Khảm
[4] Cf. Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, Lời giới thiệu của Đức Giám mục Luy Nguyễn Anh Tuấn
[5] Cf. Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 143-144
[6] Sách giáo lý hội thánh công giáo, số 2357
[7] Để hiểu rõ hơn, xin đọc mục Tranh luận về nguồn gốc của đồng tính luyến ái, Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, từ tr. 71
[8] Cf. Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, tr. 75-90
[9] Cf. ibid., tr. 99
[10] Tìm hiểu thêm Chương 2: Ý thức hệ cánh tả về giới tính, Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, tr. 34-63
[11] Cf. Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, tr. 36
[12]Ibid., Lời giới thiệu của Đức Giám mục Luy Nguyễn Anh Tuấn
[13] Cf. Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 242
[14] Cf. Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, tr. 44
[15] Ibid., tr. 65
[16] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến tính dục (1975), mục I, trích trong Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 14
[17] Ibid., tr. 15
[18] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Thư gửi các Giám mục Giáo Hội Công Giáo về chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính luyến ái, số 2, trích trong Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 42
[19] Ibid., số 7
[20] Sách Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, số 2357
[21] Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 165-167
[22] Ibid., tr.172
[23] Ibid., tr.171
[24] Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 242-243
[25] Theo pháp luật hiện hành thì Việt Nam chưa chính thức công nhận tính hợp pháp của hôn nhân đồng tính, nhưng cũng đã bỏ điều khoản cấm kết hôn giữa hai người đồng tính. Theo đó, hai người đồng tính có thể làm đám cưới mà không bị phạt như trước đây, dù không có đăng kí kết hôn (xem Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 177)
 
[26] Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 181
[27] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, số 2358
[28] Ibid., số 2358
[29] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Những xem xét liên quan đến các đề nghị công nhận hợp pháp cho việc kết hợp giữa những người đồng tính luyến ái, số 11, trích trong Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 63
[30] Dale o’leary, Một nam một nữ, Nxb. Tôn Giáo, tr. 20
[31] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Thư gửi các Giám mục Giáo Hội Công Giáo về chăm sóc mục vụ cho những người đồng tính luyến ái, số 9, trích trong Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 49-50
[32] Trần Như Ý Lan, Đồng tính luyến ái và chuyển giới dưới nhãn quan khoa học và đức tin Công giáo, NXb. Đồng Nai, tr. 185

Tác giả: Thất Nguyễn

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây