
Trong thế giới có nhiều thứ chân lý, nhưng không phải chân lý nào cũng đưa con người đến ơn cứu độ và sự sống vĩnh cửu. Chỉ có một Chân Lý đưa đến sự sống đời đời, Chân Lý đó là chính Đức Giêsu Kitô, Đấng là Thiên Chúa, là “Đường, là Chân Lý và là Sự sống”. (x. Ga 14,6). Tuy nhiên, cùng với đà phát triển, đang có một khuynh hướng dửng dưng không chỉ với tôn giáo, nhưng là với Chân Lý – Đức Kitô. Khuynh hướng dửng dưng hay lãnh đạm đối với tôn giáo xuất phát từ quan niệm cho rằng chân lý nào cũng như chân lý nào, không có chân lý nào là tuyệt đối cả. Chủ nghĩa tự do cá nhân lấy con người làm trung tâm của vũ trụ biến con người trở thành một kẻ vong thân đối với Đấng là cội nguồn của mọi chân lý, Đấng là Chân lý tuyệt đối. Chính vì thế, mối lo ngại của Giáo hội trong thế giới hôm nay không chỉ là vấn đề “tin hay không tin” vào Chân Lý. Nhưng nguy hiểm hơn, não trạng dửng dưng, nghĩa là chẳng bận tâm tới Chân Lý, mới là “căn bệnh” khiến Giáo hội ưu tư hơn trong thế giới hôm nay.
Câu hỏi xem ra ngớ ngẩn của Philatô: “Chân Lý là gì?” (Ga 18,38) chưa bao giờ là lỗi thời. Thậm chí, lời chất vấn ngu ngơ ấy lại rất hiện sinh trong bối cảnh hiện tại. Quả vậy, cũng như Philatô, nhiều người thời nay cũng mù mờ và mơ hồ về Chân Lý. Và khi không xác định được đâu là chân lý, hoặc người ta sẽ phủ nhận (vô thần), hoặc sẽ chạy theo những chân lý giả tạo (cuồng tín). Nhưng có một thái độ đáng sợ hơn trong thế giới hôm nay. Đó là sự dửng dưng, mà người ta thường gọi là chủ nghĩa “mackeno”. Với họ, tin hay không tin chẳng quan trọng, thích là “được”. Bên cạnh khuynh hướng quy về Chúa, giờ đây, con người bị một yếu tố khác đè nặng, đó là khuynh hướng dửng dưng với Ngài. Tiềm năng đó vốn đã được Tạo Hóa cài sẵn trong lòng thụ tạo mang bản chất hữu hạn, nhưng lịch sử đã biến tiềm năng đó thành khả năng.
Quả vậy, chúng ta đang sống trong một thế giới khá hỗn loạn trên bình diện tinh thần và đặc biệt là về ý thức tôn giáo. Một đàng là các chủ trương “cuồng tín”, chiêu dụ tín đồ. Và đàng khác là chủ trương thế tục, tương đối mà hệ quả là “dửng dưng”. Kéo theo đó, những phong trào tâm linh sai lạc với những ngẫu tượng của thời đại mới khiến không ít người bị sập bẫy. Chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để mình “bị sóng đánh trôi dạt theo mọi chiều gió đạo lý” (x. Ep 4,14) xem ra lại được coi là thái độ phù hợp nhất với thời đại. Nó trở thành một lực cản đặc biệt đáng ngại trong việc giáo dục trong xã hội, văn hóa và cả tôn giáo. Chủ nghĩa này không nhìn nhận điều gì là vững vàng, cuối cùng tiêu chuẩn tối thượng duy nhất là cái tôi và những ước muốn của nó. Và ẩn dưới dáng vẻ của tự do, nó lại biến thành ngục thất cho mỗi người vì nó ngăn cách con người với nhau, khóa chặt mỗi người trong cái tôi ích kỷ của mình. Trong đó, con người cuống cuồng chạy theo đà phát triển công nghệ, đến mức quên đi thực tại. Nhiều người đánh mất căn tính về chính mình. Họ không còn biết, cũng chẳng bận tâm mình là ai và ý nghĩa của sự hiện hữu là gì. Họ chẳng tin vào ai hay bận tâm về bất cứ điều gì, kể cả thần thánh. Với họ, Chúa có cũng được, không cũng chẳng sao. Họ lãnh đạm và dửng dưng với mọi sự, ngay cả với chính sự hiện hữu của mình.
Không những thế, với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật, con người nghĩ rằng họ có thể làm được bất cứ điều gì, giải quyết hết tất cả mọi vấn đề, ngay cả việc làm ra những con người bằng các phương pháp khoa học. Họ không cần phải cậy dựa vào một thế lực thiêng liêng nào để giải quyết mọi khúc mắc, vì não trạng tuyệt đối hóa khoa học kỹ thuật. Từ đó, hiện tượng vô tín và dửng dưng tôn giáo đưa đến khuynh hướng tương đối hóa mọi thứ chân lý. Từ chỗ đó, người ta dễ rơi vào chủ nghĩa tương đối, muốn làm gì cũng được, muốn sống sao cũng được, biến cá nhân mình thành chủ thể của mọi quyết định, mình trở thành toà án xét xử chính mình chứ không ai khác.
Đặc biệt, trong một thế giới đang bị “ảo hóa” bởi công nghệ, trên thế giới ảo “trôi nổi”, “bồng bềnh” các hệ thống giá trị độc hại, các hình thức chân lý giả tạo. Điều đó dẫn tới sự bội thực về chân lý và các giá trị. Thành ra, đối với nhiều người, vấn đề không phải là có hay không có Chúa, cần hay không cần tôn giáo nữa, nhưng có cũng được mà không có cũng chẳng sao. Hệ quả là khi bị chết chìm trong sự dửng dưng, nhiều người đánh mất chính mình và chôn vùi sự hiện hữu trong mớ bòng bong, hỗn độn của sự phù phiếm và chủ nghĩa thế tục. Để rồi, khi niềm khao khát sâu thẳm tưởng như đã chết yểu trỗi dậy, nhiều người giật mình nhận ra, nhưng cũng không ít người buông xuôi. Để rồi, đây đó nhan nhản những thảm trạng đau lòng xảy ra, khi nhiều người chọn kết thúc cuộc sống “tươi đẹp”, nhưng vô nghĩa của mình. Cuộc sống đó không đáng sống vì không có nền tảng. Sự dửng dưng kéo theo cuộc khủng hoảng về ý nghĩa và giá trị, một trong những khủng hoảng đáng sợ nhất của thời đại ngày hôm nay.
Điều này đã được Công Đồng Vaticanô II tiên báo khi lưu ý các thành phần trong Giáo hội phải nhận ra những dấu chỉ của thời đại để phục vụ hữu hiệu hơn, hầu có thể loan truyền Tin Mừng sống động và mở rộng Nước Chúa. Trong đó, hiện tượng dửng dưng và vô thần thực hành đang là một trong những thảm kịch tâm linh mà Thánh Công đồng coi như một trong những sự kiện trầm trọng nhất của thời đại chúng ta. Giáo hội đang phải đối diện với sự dửng dưng và sự vô tín về phương diện thực hành đang lan rộng trong các môi trường văn hóa thấm nhuần chủ nghĩa thế tục.
Từ đó, tình yêu trở thành đáng ngờ, thậm chí đáng sợ. Người ta có thể nhân danh điều cao cả nhất để làm điều tệ hại nhất. Tình yêu có thể trở thành bình phong cho tất cả, từ sự “buôn bán thân xác” cho đến “ôm bom nguyên tử”. Có khi lại khoan dung cho những điều không thể khoan dung. Và hệ quả là, con người dửng dưng với những điều mà lẽ ra “không thể dửng dưng”.
Điều này được Đức cố Giáo hoàng Phanxicô cảnh báo trong các Tông huấn của Ngài. Chẳng hạn, trong Tông huấn Niềm vui Tin Mừng, ngài khẳng định: “Tại nhiều nơi, thách thức nổi trội hơn là sự lan rộng của chủ nghĩa dửng dưng và chủ nghĩa tương đối, gắn liền với sự thất vọng và khủng hoảng ý thức hệ xuất hiện như một phản ứng chống lại bất cứ cái gì có vẻ độc tài. Tình trạng này không chỉ làm hại Hội Thánh mà cũng làm hại toàn thể xã hội. Chúng ta phải nhận ra rằng, trong một nền văn hoá mà mỗi người chỉ muốn chấp nhận sự thật chủ quan của mình, thì sẽ khó biết bao để các công dân tìm ra được một kế hoạch chung vượt lên trên các lợi ích riêng tư và các tham vọng cá nhân”.
Từ đó, ngài lên án việc “để duy trì một lối sống loại trừ người khác, hay duy trì sự phấn khích với lý tưởng ích kỷ ấy, một hiện tượng toàn cầu hoá của sự dửng dưng đã phát triển. Hầu như vô tình, rốt cuộc chúng ta trở nên vô cảm trước tiếng kêu của người nghèo, không còn có thể khóc trước nỗi đau của người khác hay cảm thấy cần cứu giúp họ, coi như tất cả đều là trách nhiệm của một ai khác chứ không phải của chính chúng ta. Văn hoá của sự thịnh vượng làm chúng ta mất đi sự mẫn cảm; chúng ta phấn khích nếu thị trường cung cấp cho chúng ta một món hàng mới; trong khi tất cả những mảnh đời cằn cỗi vì thiếu cơ hội có vẻ chỉ là một cảnh tượng bình thường, không hề làm chúng ta mủi lòng”.
Đứng trước thực trạng ấy, Giáo hội không thể làm thinh và “dửng dưng” như cách con người đang dửng dưng với Chúa và Giáo hội. Trái lại, Giáo hội luôn mở ra để đi vào thế giới, lắng nghe và hiệp thông với những nỗi đau; thấu cảm sự trống rỗng, cùng khao khát đích thực của con người. Để rồi, Giáo hội lên tiếng, để lên án và bài trừ chủ nghĩa tương đối và não trạng dửng dưng mà những thế lực hắc ám muốn gieo vào nhân tâm nhân loại. Thực vậy, Giáo hội xác tín, tuy có một số sống dửng dưng, nhưng vẫn có bao tâm hồn sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi hoạt động thiện nguyện, trở nên công dân tích cực và sống tình liên đới trong xã hội. Điều quan trọng là Giáo hội, qua các mục tử, phải đồng hành và khuyến khích mọi thành phần phát triển tài năng, năng lực và óc sáng tạo và thúc đẩy họ gánh vác trách nhiệm. Trong đó, dấn thân xã hội và tiếp xúc trực tiếp với người nghèo là một cơ hội quan trọng để con người khám phá hay đào sâu đức tin và để họ phân định ơn gọi của mình.
Bằng những phương thế hữu hiệu, sự nhiệt tâm và tình yêu, mỗi người Kitô hữu hoàn toàn có thể giúp những người đang bị lệ thuộc vào não trạng cá nhân chủ nghĩa, dửng dưng và vị kỷ. Nhờ sự đồng hành và gương chứng nhân, họ có thể thoát khỏi những sợi dây trói buộc không đáng có và đạt được một cách sống và tư duy nhân đạo hơn, cao thượng và hiệu quả hơn, đem lại phẩm giá cho sự hiện diện của họ trên mặt đất này. Niềm vui Kitô giáo sẽ không thể được ca tụng một cách chính đáng nếu chúng ta dửng dưng trước chứng tá, cả bên ngoài lẫn nội tâm, mà Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa – thể hiện về chính Người giữa lòng tạo thành: “Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,10).
Cách riêng trong thế giới ảo, mỗi Kitô hữu cũng có thể trở thành một môn đệ thừa sai trên xa lộ kĩ thuật số. Nơi đó, bằng khả năng, cùng với sự thận trọng và khôn ngoan, dưới ánh sáng Lời Chúa và trung thành với Giáo huấn xã hội, mỗi người biết “thật hóa thế giới ảo” bằng Chân Lý đích thực. Thay vì chết chìm trong các thực tại ảo, chúng ta hãy đem Tin Mừng sống động lan tỏa cho những công dân ảo. Để từ đó, những công dân ảo có thể nhận ra Chân Lý, trở về với thực tại mà sống các giá trị và ý nghĩa đích thực trong các tương quan thật. Nhờ đó, Tin Mừng được lan tỏa tới mọi nơi, mọi thời.
Thay cho lời kết, người viết mượn lời của Đức Thánh Cha Lêô XIV trong buổi tiếp kiến các tham dự viên Hội nghị chuyên đề lần thứ 8 giữa Bộ Đối thoại Liên tôn và Viện Hoàng gia Nghiên cứu Liên tôn của Jordan, để nói lên tầm quan trọng của việc đối thoại liên tôn trong việc loại trừ thái độ dửng dưng. Ngài nhấn mạnh rằng lòng trắc ẩn và sự đồng cảm là lời mời gọi của Thiên Chúa dành cho cả Kitô hữu và người Hồi giáo. Ngài kêu gọi hai truyền thống tôn giáo cùng nhau chống lại sự dửng dưng đang lan rộng trong xã hội hiện đại. “Anh chị em thân mến, đáng buồn thay, ngày nay, lòng trắc ẩn và sự đồng cảm đang có nguy cơ biến mất. Những tiến bộ công nghệ đã kết nối chúng ta nhiều hơn bao giờ hết, nhưng chúng cũng có thể dẫn đến sự thờ ơ. Dòng chảy liên tục của hình ảnh và video về những khổ cực của người khác có thể làm chai lì tâm hồn chúng ta hơn là khơi dậy nó. Trong bối cảnh ấy, các Kitô hữu và người Hồi giáo, kín múc từ sự phong phú của truyền thống riêng mình, được mời gọi cùng thực hiện một sứ mạng chung: làm hồi sinh tình người nơi những chỗ đã trở nên lạnh giá, lên tiếng nói cho những ai đang đau khổ và biến sự thờ ơ thành tình liên đới. Lòng trắc ẩn và sự đồng cảm có thể là những công cụ của chúng ta vì chúng có sức mạnh phục hồi phẩm giá của người khác” .
^ F.X. Trần Kim Ngọc, O.P., “Dửng dưng tôn giáo hay vô cảm với chân lý,” Thời sự Thần học, số 3 (8/2009), truy cập ngày 13/05/2026, https://www.thoisuthanhoc.net/2022/06/dung-dung-ton-giao-hay-vo-cam-voi-chan-ly.html.
^ Joseph Ratzinger,Thiên chúa và trần thế, Nxb. Tôn Giáo, 2023, 48-49
^ Athanase Nguyễn Quốc Lâm, Ngữ pháp của tình yêu, mạc khải – đức tin, Thần học căn bản, Nxb. Tôn Giáo, 2022, 345-346
^ Thiên Triệu,Tác động của chủ nghĩa tương đối trên giới trẻ, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/tac-dong-cua-chu-nghia-tuong-doi-tren-gioi-tre-40391
^ F.X. Trần Kim Ngọc, O.P., “Dửng dưng tôn giáo hay vô cảm với chân lý,” Thời sự Thần học, số 3 (8/2009), truy cập ngày 13/05/2026, https://www.thoisuthanhoc.net/2022/06/dung-dung-ton-giao-hay-vo-cam-voi-chan-ly.html.
^ Công đồng Vaticanô II, Hiến chế Mục vụ về Giáo hội trong thế giới ngày nay – Gaudium et Spes, số 19
^ Athanase Nguyễn Quốc Lâm, Ngữ pháp của tình yêu, mạc khải – đức tin, Thần học căn bản, Nxb. Tôn Giáo, 2022, 312
^ Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, 2013, số 61
^ Ibid., số 54
^ Đức Thánh cha Phanxicô, Tông huấn Đức Kitô đang sống, 2019, số 170
^Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng, 2013, số 208
^ Đức Thánh cha Phaolô VI, Tông huấn Gaudete in Nomine – Hãy vui lên trong Chúa, số 5
^ Nữ tu Maria Hoài Ân chuyển ngữ, “Kitô hữu và người Hồi giáo được mời gọi biến sự dửng dưng thành tình liên đới”, Hội đồng Giám mục Việt Nam, truy cập ngày 13/05/2026, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/kito-huu-va-nguoi-hoi-giao-duoc-moi-goi-bien-su-dung-dung-thanh-tinh-lien-doi--loi-chao-tham-cua-duc-thanh-cha-leo-xiv-gui-cac-tham-du-vien-hoi-thao-lan-thu-8-giua-bo-doi-thoai-lien-ton-va-vien-nghien-cuu-lien-tin-nguong-hoang-gia.
Tác giả: Thất Nguyễn