
Giáo hội tự bản chất là một tôn giáo nhập thể và nhập thế, lăn lưng vào đời để biến đổi và cứu vớt cuộc đời từ nền tảng[1], nghĩa là mang ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Nhất là khi gặp gỡ những bối cảnh mới và đa dạng[2], Giáo hội luôn ý thức rằng mình không tồn tại cho chính mình. Để rồi, ngay từ khi Đức Giêsu sai các môn đệ đi “đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8), “Tin Mừng không phải một kho tàng để cất giữ, nhưng là một ân ban để được chia sẻ” [3] . Chính vì thế, truyền giáo đã trở thành sứ mệnh của mọi Kitô hữu mọi nơi, mọi thời và được thực hiện theo nhiều cách thức với hoạt động khác nhau, tùy bối cảnh. Trong đó, đối thoại liên tôn không chỉ là một phương thức, nhưng còn là một nghệ thuật để loan báo Tin Mừng trong bối cảnh đa nguyên tôn giáo như hiện nay.
Đa nguyên tôn giáo và tính cấp thiết của đối thoại liên tôn
Đa nguyên tôn giáo là một thực tại không thể phủ nhận, nhất là trong một thế giới ngày càng được “phẳng hoá” nhờ di cư và công nghệ. Thế giới ngày nay đang được thu gọn thành “một ngôi làng địa cầu”, nơi nhiều người thuộc các nền văn hóa, ngôn ngữ và tôn giáo đang sống bên cạnh nhau[4]. Trong đó, Kitô giáo dù có số lượng tín đồ cao nhất, nhưng vẫn chỉ là thiểu số, so với tổng dân số trên thế giới. Thành ra, chúng ta, những người Kitô hữu vẫn đang sống cùng và sống giữa các tôn giáo hay các truyền thống tôn giáo khác. Các tôn giáo này là lối sống của phần lớn nhân loại. Đó là những biểu hiện sống động của tâm hồn đại đa số quần chúng. Họ mang trong mình tiếng vọng của hàng ngàn năm nhân loại khắc khoải tìm kiếm Thiên Chúa[5]. Chính vì thế, khởi đi từ lệnh truyền “đi khắp tứ phương thiện hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15), Giáo hội luôn ý thức thực thi sứ mạng mang bản chất của mình, đó là truyền giáo.
Quả vậy, đối diện với hiện tượng này, Giáo hội khẳng định quyền tự do tôn giáo và không ai bị ngăn cấm hành động theo tiếng lương tâm. Cũng vậy, “điểm chính yếu của học thuyết Công giáo… là con người phải bày tỏ niềm tin vào Thiên Chúa cách tự nguyện. Vì lẽ đó, không ai bị cưỡng bách phải chấp nhận đức tin trái với ý muốn…”[6] Từ đó, Giáo hội cấm ngặt không ai được ép buộc hay dùng những mánh lới bất xứng để dụ dỗ hay lôi cuốn người ta theo đạo. Đồng thời, cương quyết đòi cho con người quyền không bị hăm doạ để bỏ đạo bằng những bách hại bất công[7] . Như vậy, Giáo hội đã thể hiện một nhãn quan cởi mở, tích cực đối với thế giới hiện đại, cùng sự đa dạng của các tôn giáo. Đồng thời, mời gọi các Kitô hữu dấn thân thi hành sứ vụ cách phù hợp và hiệu quả trong mối tương quan với các tín hữu thuộc các tôn giáo khác[8] .
Do đó, vấn đề đa nguyên tôn giáo đặt ra những thách đố trong việc sống niềm tin của người Kitô hữu trong thế giới. Nhưng cùng lúc, nó cũng tạo ra cơ hội để tiếp cận với những người khác đạo. Để qua đó, người Công giáo có thể nói về Chúa ngang qua việc thực hành “đối thoại liên tôn, vốn là một phần trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng” [9] .
Đối thoại liên tôn, một phương thức truyền giáo
Nhìn lại lịch sử, chúng ta biết cho đến đầu thế kỷ XX, quan điểm chung của Kitô giáo đối với các tôn giáo khác vẫn mang nặng thái độ hộ giáo. Đó là tuyệt đối đề cao Kitô giáo như “chân đạo”, hoàn thiện và duy nhất, còn các tôn giáo khác nói cho cùng chỉ là “đạo phụ” hay hơn nữa còn bị coi là “tà đạo”. Vấn đề đối thoại liên tôn nếu được đặt ra thì cũng mang tính cách biện giáo hay công tác chiến thuật nhằm biết người hơn, ngõ hầu dễ chinh phục hơn, hoặc cùng lắm là để vay mượn một số từ ngữ hay làm chung một số công tác bác ái, từ thiện, nhưng giáo lý và niềm tin thì nhất định không thể đụng đến[10] . Tuy nhiên, Công đồng Vatican II đánh dấu một giai đoạn mới trong lịch sử Kitô giáo trong tương quan với các tôn giáo khác. Giáo hội từng bước loại bỏ thái độ đóng khung và mọc rễ trong khung cảnh Tây Phương, tồn tại như một pháo đài và có một cái nhìn hết sức khắt khe, tiêu cực với những tôn giáo khác[11] . Thay vào đó, nhìn nhận những giá trị tốt đẹp nơi các tôn giáo khác và khẳng định khả năng cứu độ của người ngoài Kitô giáo[12].
Trong chiều hướng đó, sau Công đồng Vaticanô II, khái niệm truyền bá Tin Mừng được hiểu theo nghĩa rộng. Theo đó, không chỉ dừng lại ở việc loan báo Đức Giêsu Kitô, nhưng còn được thực hiện bằng đời sống chứng tá, qua các hoạt động phát triển con người và xã hội, và nhất là bằng đối thoại liên tôn[13] . Hiểu như thế, Giáo hội nhìn nhận việc đối thoại liên tôn là một đường hướng quan trọng để thi hành sứ vụ truyền giảng Tin Mừng.
Tuy nhiên, nhiều tư tưởng đã hiểu sai quan điểm của Công đồng khi cho rằng chính Vaticanô II đã làm nguội đi lòng hăng say thực thi lệnh truyền Đấng Cứu Thế (x. Mt 28,19). Họ cho rằng thái độ cởi mở và tôn trọng các tôn giáo ngoài Kitô giáo, hay tuyên bố một cách long trọng về quyền tự do tôn giáo đã hạ thấp sự cấp bách của sự mạng này. Vì theo họ, truyền giáo đã bị đồng hoá với thái độ chiêu mộ đã lỗi thời, hay không còn cần thiết, do hiểu đối thoại liên tôn đồng nghĩa với não trạng tương đối hoá tôn giáo[14] .
Trái ngược hoàn toàn với những quan điểm trên, Giáo hội khẳng định thành quả của Vaticanô II không bao giờ làm cho sứ vụ rao giảng Tin Mừng bị thuyên giảm. Trái lại, dù bằng những cách thức khác nhau, mục đích quan trọng nhất luôn là loan báo Đức Giêsu Kitô cho con người mọi nơi mọi thời. Như thế, việc đối thoại liên tôn thật ra thúc đẩy chúng ta nhiệt thành sống và chia sẻ đức tin hiệu quả hơn[15] . Điều này được chính Công đồng và các văn kiện sau Công đồng khẳng định cách minh nhiên và dứt khoát.
Đặc biệt, trong Thông điệp Redemptoris Missio, Đức thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II quả quyết:“Đối thoại liên tôn là một phần trong sứ vụ rao giảng Tin Mừng. Hiểu như là một phương pháp và phương tiện hiểu biết lẫn nhau và làm cho nhau nên phong phú, đối thoại không đối lập với sứ mạng truyền giáo. Nhưng liên kết đặc biệt với nhiệm vụ này và là một trong những biểu hiện của nó… Hai yếu tố này vừa phải duy trì được sự liên kết sâu sắc, cũng như phải giữ được những đặc trưng phân biệt rõ ràng…”[16]
Theo hướng ấy, hình thức này rất cần thiết để “xây dựng sự hiệp nhất, phục vụ cho việc hòa giải, thúc đẩy tình liên đới, xóa bỏ các định kiến và ươm mầm tin yêu giữa các tín hữu của các tôn giáo khác nhau.” Mặc dù hình thức này là một phần nội tại của sứ mạng rao giảng Đức Giêsu Kitô, nhưng nó “phải được tổ chức và thực thi với niềm xác tín rằng Giáo hội là phương tiện thông thường của ơn cứu độ và chỉ một mình Giáo hội sở hữu trọn vẹn các phương tiện cứu rỗi” [17]. Vì thế, trong thế giới đa nguyên, đối thoại không còn là một phương tiện tùy chọn, nhưng là điều kiện thiết yếu, một nghệ thuật của truyền giáo.
Đối thoại liên tôn, nghệ thuật để truyền giáo
Trước hết, về định nghĩa, chúng ta hiểu đối thoại liên tôn là “toàn bộ những tương quan liên tôn, tích cực và xây dựng, với những người và những cộng đồng của các tín ngưỡng dị biệt, nhằm tìm cách quen biết nhau và làm phong phú cho nhau”, trong sự tuân phục chân lý và tôn trọng tự do của mỗi người[18]. Đó là cuộc gặp gỡ giữa những người khác tôn giáo, trong bầu khí tự do và cởi mở, để lắng nghe, thấu hiểu và cộng tác với nhau[19] . Nhờ đó, sự đối thoại giúp cho người Kitô hữu nhìn nhận ra những mầm giống của chân lý tiềm tàng trong các nền văn hóa và các tôn giáo. Đồng thời, cũng giúp cho chính mình đào sâu hơn về căn cước của mình và sống thích hợp hơn với yêu sách của sứ điệp Tin Mừng[20] .
Tiếp đến, về cách thức, văn kiện quan trọng của Hội đồng Tòa Thánh về Đối thoại liên tôn, Huấn thị “Đối Thoại Và Loan Truyền” đã trình bày bốn hình thức căn bản của hình thức này: đối thoại bằng đời sống, đối thoại bằng hành động, đối thoại tri thức và đối thoại về kinh nghiệm tôn giáo[21] .
Đầu tiên là đối thoại bằng đời sống. Đây là hình thức cơ bản, nhưng rất quan trọng, khi mọi Kitô hữu đều được mời gọi dấn thân thực hành trong môi trường sống của mình. Sống tốt với những người thuộc các tôn giáo khác, chắc hẳn là cách thức đầy hiệu quả để làm chứng và trình bày cách sống động sứ điệp tình thương của Chúa cho mọi người. Giáo hội tin rằng việc làm chứng tá qua một đời sống tốt lành là cách rao giảng Tin Mừng thuyết phục nhất. Hơn nữa, qua việc khiêm tốn gặp gỡ những người khác đạo, các Kitô hữu để cho mình có cơ hội khám phá ra cách thức Thiên Chúa đang hoạt động trong đời sống của họ[22] . Đó là những gì mà Charles Foucauld (1858-1916) đã làm nhiều năm, khi ngài sống như một người Hồi Giáo giữa những anh em Hồi Giáo ở Tamanrasser, vì yêu thương họ. Tinh thần đó tiếp tục được nhiều anh chị em Tiểu đệ và Tiểu Muội Chúa Giêsu đang tiếp tục thi hành giữa dân Hồi Giáo…[23]
Tiếp đến là đối thoại bằng hành động là hợp tác với nhau để đi đến công cuộc phát triển toàn diện và giải phóng hoàn toàn con người[24] . Cách cụ thể, qua việc cùng chung tay phục vụ công ích, các Kitô hữu có thể thêm phần hiểu biết về những thành viên của các tôn giáo khác và chuẩn bị sẵn sàng cho các cuộc trao đổi sâu xa hơn. Nhờ đó, các tín đồ của các tôn giáo khác nhau có thể nhận ra rất nhiều những ý tưởng chung đầy tích cực và tốt lành góp phần gắn kết họ lại với nhau. Không những thế, đối thoại bằng hành động có thể “thúc đẩy sự hiểu biết lẫn nhau giữa các tín hữu. Hình thức đối thoại này cũng thúc đẩy tình thân hữu giữa họ” [25] . Cách cụ thể, ở một số quốc gia, phụ nữ thuộc hai tôn giáo cộng tác với nhau cứu giúp các thiếu nữ đường phố. Hay nhiều hội nghị, tổ chức được thực hiện để giải quyết những vấn đề di dân toàn cầu, hay nghèo đói, bệnh tật…[26] Gần gũi hơn ngay tại Việt Nam, đã có sự tham dự của những anh em tôn giáo bạn trong một số hoạt động của các hội đoàn trong các giáo xứ, giáo họ. Hoặc sự cùng nhau chung tay của tín đồ các tôn giáo trong các công tác xã hội, bảo vệ môi trường…
Hình thức đối thoại thứ ba là đối thoại tri thức. Theo đó, các nhà chuyên môn tìm cách đào sâu kiến thức về các gia sản tôn giáo của nhau và thẩm định các giá trị siêu nhiên nơi các tôn giáo bạn[27] . Thông qua những cuộc họp mặt mang tính hệ thống và chính thống này, họ hy vọng mở rộng và đào sâu kiến thức về chính tôn giáo của mình và các tôn giáo khác nhằm tìm kiếm sự hiểu biết lẫn nhau và trân quý những giá trị thiêng liêng của người khác. Điều này đòi buộc mỗi người đối đàm phải chuẩn bị kỹ, trình bày rõ ràng và chú tâm lắng nghe Lời Chúa được tỏ lộ qua người khác. “Chỉ khi chúng ta thực sự hiểu và để cho mình được linh hứng từ cùng một Ngôi Lời Thiên Chúa thì chúng ta mới có thể chia sẻ sự dồi dào phong phú nơi niềm tin của mình.”[28] Chẳng hạn, nhóm Nghiên cứu Hồi Giáo – Kitô giáo, thành lập năm 1977 là một ví dụ điển hình[29] . Hay ở Việt Nam là các cuộc hội ngộ liên tôn, mà gần đây nhất là cuộc Hội Ngộ Liên Tôn lần thứ XIV của Tổng Giáo phận Sài Gòn với chủ đề “Đối thoại gắn kết tha nhân” [30] .
Cuối cùng là đối thoại bằng việc chia sẻ kinh nghiệm tôn giáo, nghĩa là đi sâu vào chính truyền thống tôn giáo của mình, chia sẻ những giá trị siêu nhiên phong phú của mình. Chẳng hạn những giá trị liên quan đến cầu nguyện và chiêm niệm, đến đức tin và những con đường tìm đến Thiên Chúa hoặc đấng Tuyệt Đối[31] . Đây là sự chia sẻ và đồng hành thiêng liêng giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau. Qua việc tích cực chia sẻ sự phong phú trong đời sống thiêng liêng với nhiều hình thức như cầu nguyện, suy niệm, thực hành tôn giáo, các tín hữu có thể trợ giúp lẫn nhau như những người đồng hành trong cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa [32]. Trong thực tế, đã có các đan sĩ Biển Đức và dòng Trappe tổ chức những cuộc trao đổi liên đan viện với các tu sĩ Phật Giáo…[33]
Như thế, bốn hình thức đối thoại này đều có những đặc điểm riêng và việc áp dụng những hình thức đối thoại này phụ thuộc vào từng bối cảnh và khả năng của người đối thoại. Có thể nói một cánh đồng rộng lớn đang mở ra cho đối thoại với nhiều hình thức và cách diễn tả khác nhau. Qua đó, các tín hữu thuộc những tôn giáo khác nhau làm chứng cho nhau trong đời sống hằng ngày về những giá trị nhân bản và thiêng liêng của mình, đồng thời giúp nhau sống theo các giá trị ấy để xây dựng một xã hội công bằng và huynh đệ hơn[34] .
Tuy nhiên, để áp dụng những hình thức đối thoại trên, luôn cần khả năng lắng nghe. Lắng nghe là một trong những hành vi đầu tiên của đối thoại. Vì thế, cần phải nhấn mạnh lắng nghe vì con người trong thế giới hôm nay dường như ngày càng khó lắng nghe nhau[35] . Cùng với đó, đối thoại dưới bất cứ hình thức nào đều cần sự tôn trọng và nhất là tình yêu. Tôn trọng sự khác biệt và trong tình bác ái Kitô giáo. Tất cả đều phải được thực hiện như một nghệ thuật trong việc đối thoại để lan toả Đức Giêsu Kitô cho con người trong thế giới hôm nay. Bởi vì, động cơ thâm sâu của sứ vụ truyền bá Tin Mừng nằm ở khả năng lắng nghe, thái độ cởi mở tôn trọng và nhất là ngang qua mầu nhiệm tình yêu. Chính tình yêu Thiên Chúa và tha nhân thúc đẩy chúng ta loan báo Tin Mừng cho con người mọi nơi mọi thời[36] .
Tắt một lời, trong một thế giới đa nguyên, có thể nói nếu không biết đối thoại, thì không thể truyền giáo. Đối thoại liên tôn không phải là sự thoả hiệp đức tin, nhưng là con đường để đức tin được diễn tả cách trưởng thành và thuyết phục hơn trong một thế giới đa phức hiện nay. Hơn nữa, mặc dù không thay thế, nhưng phương thức này luôn hướng về sứ mạng giới thiệu Đức Giêsu Kitô. Nếu đối thoại như điểm khởi hành, thì loan báo Đức Giêsu Kitô phải là điểm đến. Tóm lại, sự chia sẻ chân thành nhất và sâu xa nhất của Giáo Hội phải là Danh Chúa được loan đi tận cùng trái đất[37].
(Tạp chí Ra khơi số 34)
Tác giả: Thất Nguyễn