Truyện: Chúa muốn thấy một trái tim dám mang sẹo

Thứ tư - 03/06/2026 05:35  132
Cuộc đời của Anh trước đây trôi qua khá êm ả. Cả trong đời sống thường nhật lẫn hành trình ơn gọi, mọi sự dường như đều xuôi chèo mát mái. Sau những năm đào tạo không mấy vấp váp, Anh trở thành một linh mục trẻ và được sai về làm cha phó tại một giáo xứ khá nền nếp. Cuộc sống vì thế cũng bình yên và tiện nghi. Nhiều người nói đi tu là hy sinh lớn lao, nhưng nhìn lại cuộc đời mình, Anh phải thú thật rằng mình được nhiều hơn mất. Nào là không phải lo lắng chuyện mưu sinh, lại còn được bà con giáo dân quý mến, kính trọng… Với nhiều người, đó hẳn là một cuộc đời đáng mơ ước. Thế nhưng chính sự êm ả ấy lại khiến Anh đôi khi cảm thấy bất an với câu hỏi: “Liệu mình có đang thực sự vác thập giá theo Chúa, đang yêu Chúa hay chỉ yêu sự thoải mái mà việc theo Chúa mang lại? Nếu một ngày kia, những điều thuận lợi kia bị lấy đi, mình có còn yêu Chúa, yêu ơn gọi này nữa không?” Anh thấy mình quá yếu đuối trước những hy sinh nhỏ nhặt. Chỉ vài điều trái ý cũng đủ làm Anh khó chịu. Những ân huệ nhận được lâu ngày trở thành điều đương nhiên, chẳng đủ để khơi lên trong Anh tâm tình cảm tạ. Nhưng khi chỉ một điều nho nhỏ trong số ấy bị lấy đi, Anh lại cảm thấy mình bị thiệt thòi, rồi càm ràm, kêu trách. Mặc dù bề ngoài, Anh vẫn chu toàn công việc mục vụ, nhưng trong thâm tâm, Anh biết mình còn xa mới đạt đến tình yêu quảng đại dành cho Chúa và tha nhân. Nhiều khi Anh thấy mình toan tính quá, toàn chọn những điều thoải mái, dễ dàng. Anh tự an ủi bản thân mình làm thế này là đủ rồi, và vô tư dành phần lớn thời gian cho những dự tính riêng của bản thân.

Thế rồi một đêm nọ, Anh mơ một giấc mơ kỳ lạ. Anh thấy mình đang đứng giữa một khoảng không gian thật lạ lùng: tĩnh lặng, sáng dịu như ánh bình minh. Từ xa, Chúa Giêsu đang bước lại gần. Khi Ngài đến trước mặt Anh, Anh nhận ra trên hai tay Ngài đang nâng hai trái tim. Ngài đưa chúng ra và nhẹ nhàng nói: “Con hãy chọn lấy một trái tim mà con thấy đẹp nhất.” Anh chăm chú nhìn. Trái tim bên tay trái đỏ tươi, bề mặt nhẵn nhụi như chưa từng bị chạm đến bởi một vết xước nào. Nó đập đều đặn, mạnh mẽ, trông thật hoàn hảo. Còn khi nhìn sang trái tim bên tay trái, Anh bỗng khựng lại bởi cảm giác ghê ghê. Trái tim ấy trông thật yếu ớt, xấu xí. Có chỗ vết thương đã khép miệng nhưng nổi lên những đường sẹo gồ ghề. Có chỗ vẫn còn rách toạc, máu chậm rãi rỉ ra, thấm đỏ cả bàn tay Chúa. Không cần suy nghĩ lâu, Anh chỉ vào trái tim lành lặn: “Thưa Thầy… con chọn trái tim này.” Chúa Giêsu nhìn Anh rất lâu. Ánh mắt Ngài hiền từ nhưng sâu thẳm đến mức Anh cảm thấy như mọi góc khuất trong tâm hồn mình đều đang bị soi thấu. Rồi Ngài mỉm cười. Nhẹ nhàng, Ngài nâng trái tim đầy vết thương lên. “Con không nhận ra trái tim này giống trái tim của Thầy hơn sao?” Ngài nói, giọng chậm rãi. “Còn trái tim lành lặn mà con chọn kia, nó chưa từng dám bước ra khỏi vòng an toàn, chưa từng liều lĩnh yêu đến mức phải chịu tổn thương.” Ngài đưa trái tim đầy sẹo lại gần Anh hơn. Những giọt máu vẫn lặng lẽ chảy. “Còn trái tim này… mỗi vết thương là dấu tích của một lần dám yêu, dám trao ban, ngay cả khi sự trao ban ấy khiến nó đau đớn.” Rồi Chúa nhìn thẳng vào Anh. “Thầy chỉ mong các môn đệ của mình khi trở về gặp Thầy, sẽ mang theo một trái tim như thế.” Không gian bỗng trở nên lặng im. Anh nhìn trái tim đầy vết sẹo ấy, và bỗng từ những vết thương kia phát ra thứ ánh sáng rạng ngời, làm nó trở nên rạng rỡ lạ lùng. Ngay lúc đó, Anh giật mình tỉnh dậy. Trán Anh ướt mồ hôi. Anh ngước nhìn cạnh sườn bị đâm thâu trên tượng chịu nạn, cảm giác như ánh mắt của Chúa trong giấc mơ vẫn còn đang nhìn thẳng vào tâm hồn mình.

Dù không lần nào Anh mơ lại giấc mơ đó nữa, nhưng lòng anh không còn được êm ả như xưa. Anh bị giằng co giữa một bên là ý Chúa và một bên là ý riêng. Anh biết Chúa đang muốn Anh trao ban nhiều hơn. Thế nhưng, mong muốn làm vui lòng Chúa chưa đủ mãnh liệt để Anh can đảm từ chối một cuộc sống êm đềm, thoải mái. Và rồi sau nhiều đắn đo, trằn trọc, Anh thử liều ném mình vào một môi trường khó khăn hơn. Anh quyết định sẽ đăng ký trải nghiệm 3 năm tại vùng truyền giáo tại miền núi Lai Châu.

Vùng đất mới đón chào Anh bằng một cơn mưa rào tầm tã. Con đường đất lên giáo điểm bình thường đã khó đi; sau trận mưa, lại càng thêm khó nhằn hơn bởi sự lầy lội, trơn trượt. Xe máy cứ kéo ga là trượt bánh, đổ kềnh xuống, không tài nào leo lên nổi. Anh đành phải chọn cách thô sơ nhất là cuốc bộ. Đất dưới chân nhão nhoét, sền sệt, mỗi bước chân đặt xuống, bùn ngập trên mắt cá chân cả vài cm, nghe rõ tiếng lép nhép. Đi giày dép với cái địa hình này thì đúng là chịu chết. Anh đành cởi ra, buộc chúng vào cổ rồi bước từng bước nặng nề. Đôi chân của Anh vốn quen được nâng niu, giờ phải để chân trần, lội trong bùn đất, thi thoảng còn bị đá cứa vào đau điếng. Không quen di chuyển với địa hình khắc nghiệt thế này, mấy lần Anh ngã oạch xuống, quần áo, đầu tóc lấm lem toàn bùn đất. Thú thực lúc ấy Anh có chút nản lòng, muốn trở về cuộc sống êm đềm trước đây. Cảm giác mệt mỏi, khó chịu, nhớp nháp làm anh hơi bực mình, quạo quọ: “Đúng là chả có cái dại nào bằng cái dại nào. Đang sung sướng không thích, lại tự chui lên cái chỗ khỉ ho cò gáy này”. Nhưng rồi Anh chặc lưỡi, đã trót thì trét vậy, chắc Chúa cũng không thử thách Anh quá sức đâu. Sau cả gần hai tiếng, ghì gẵng, cuối cùng Anh cũng bò lên được tới giáo điểm. Mệt phờ, nhọc đứt cả hơi, Anh ngồi phịch xuống bậc thềm, trông đến là thảm hại, nhếch nhác.

Từ trong nhà, một Dì chạc tuổi Anh bước ra, nhìn bộ dạng lấm lem của Anh, vừa thương cảm lại vừa buồn cười: “Lạy Chúa tôi! Nhìn Cha thảm quá. Số cha đen thật, đúng hôm Cha lên, đường xá lại tệ đến vậy”. Anh chỉ biết cười khổ, đáp lại: “Chào Dì nhé! Sung sướng quen, giờ khổ một tí là mệt đứt hơi Dì ạ. Dưới kia mình dâng ngày 4 Thánh lễ cũng không thấy nhọc bằng một phần nhỏ như lúc này”. Dì đáp lại, ra vẻ từng trải: “Cha ơi, phía trước còn nhiều chuyện đại loại như vừa rồi lắm, cứ từ từ rồi Cha sẽ ngấm”. Một Dì khác đứng tuổi hơn, bước ra trách vui: “Chưa gì đã dọa người ta thế, người ta bỏ về thì có phải hỏng bét không. Chúa dụ mãi mới có một Cha lên đây, em đừng có phá”. Rồi Dì quay sang giục Cha: “Thôi, Cha vào tắm rửa rồi nghỉ ngơi chút cho đỡ mệt rồi ra ăn cơm, cơm nước chúng con đã chuẩn bị đâu vào đấy rồi.


Anh ngắm một lượt khung cảnh mà mình từ nay sẽ gắn bó. Mọi thứ trông thật xác xơ, cái nghèo, cái thiếu thốn lộ rõ ở khắp nơi, tất cả chỉ dừng lại ở việc đáp ứng những nhu cầu căn bản. Đang quen với cảnh đủ đầy, thú thực, Anh không khỏi có đôi chút hụt hẫng. Nhưng rồi nghĩ đến thái độ vui tươi vừa rồi của các Dì, Anh lại thấy có động lực: “Niềm vui của người tu trì, ngay cả giữa gian nan, thử thách, thiếu thốn đủ đường, mới thật rạng rỡ và thánh thiện làm sao? Đây chẳng phải là thứ tình yêu tinh ròng, hoàn toàn dấn thân, không toan tính mà Anh đang khát khao mình cũng làm được như vậy sao?” Bữa cơm đầu tiên đón Cha, đương nhiên sẽ “hoành tráng” hơn bình thường các Dì vẫn ăn, nhưng nhìn vào, đáng nói nhất vẫn chỉ có đĩa thịt gà. Tuy đạm bạc là thế, nhưng nơi đó lại sáng lên niềm vui đơn sơ, chân thành, nét đẹp rạng ngời của lòng hy sinh.

Phòng Anh và phòng của các Dì nằm trong cùng khuôn viên, chỉ cách nhau một mảnh sân nhỏ, bên này chỉ cần hắt hơi sổ mũi thì bên kia đã biết để thăm nom, cháo, thuốc. Hàng xóm gần gũi như thế, nên từ Thánh lễ, kinh nguyện, đến việc cơm nước, Anh và các Dì đều sinh hoạt chung cả. Dường như đã quá quen với nếp sinh hoạt nơi môi trường truyền giáo, nên các Dì tỏ ra rất gần gũi, tự nhiên, chân thành, không thấy có một sự xa cách, dè dặt nào. Còn Anh đã quá quen với môi trường xứ đạo truyền thống, nơi mà khoảng cách với phái nữ, ngay cả với các Dì, là điều phải để ý nếu muốn tránh phiền toái do những đặt điều, xét nét, dị nghị. Hơn nữa, chính Anh cũng nhiều lần tự răn mình là không thể lơ là, không phòng bị với chuyện tình cảm, vì như nền Tu đức truyền thống đã cảnh báo rất chí lý rằng: “Nam là rơm khô, nữ là lửa cháy, ma quỷ ở giữa quạt liên hồi, bất cẩn chút là bén lửa ngay”. Với những “hàng phòng thủ” kiên cố như thế, không phải dễ để có thể thích nghi với hoàn cảnh mới, khi mà chỉ cần bước ra khỏi cửa là “chạm mặt” các Dì.

Thế nhưng, nhiều lúc cứ cái gì người ta sợ hãi, dòng đời lại tìm cách đẩy họ vào, như thể muốn dạy cho họ cách để can đảm đối diện, thay vì chạy trốn. Mới lên đây được vài hôm, Anh đã bị “ngã nước”. Đây là trận ốm kinh hoàng nhất mà Anh trải qua từ trước đến giờ. Mới đầu, Anh chỉ cảm thấy trong người hơi khó chịu, cảm giác gai người, hơi rùng mình dù trời không lạnh. Đêm hôm đó, cơn sốt cao ập đến quá nhanh, người Anh nóng hầm hập như thể có một luồng lửa đang len lỏi vào mọi ngóc ngách trong huyết quản. Cơ thể Anh trở nên rã rời, nặng trĩu như bị ai đó ấn xuống. Mỗi lần mở mắt ra là mọi thứ lại chao đảo, nhòe đi. Cổ họng khô khốc, đắng nghét, nuốt nước bọt cũng thấy khó khăn. Tai Anh ù đi, chỉ còn nghe văng vẳng đâu đó những âm thanh rời rạc, lúc gần lúc xa. Mồ hôi vã ra ướt đẫm lưng áo, nhớp nháp thật khó chịu. Có khi Anh thấy lạnh thấu xương, dù co người lại, cuộn tròn trong tấm chăn dày mà vẫn run cầm cập; có khi lại nóng đến mức chỉ muốn bật tung chăn ra, hít lấy chút không khí cho dễ thở. Ý thức chập chờn, lúc tỉnh lúc mê, thời gian như kéo dài vô tận. Trong cơn mệt lả ấy, Anh không còn đủ sức để suy nghĩ cho rõ ràng. Miệng Anh ú ớ điều gì đó mà anh cũng chẳng rõ. Một cảm giác hãi hùng len lỏi trong tâm trí anh: Lẽ nào đêm nay Chúa sẽ đón mình về sao?

Trong cơn mê man ấy, anh mơ hồ nghe thấy tiếng ai đập cửa, giọng thảng thốt: “Cha, Cha sao vậy? Cha mở cửa đi”. Nhưng Anh chẳng còn đủ sức động đậy chứ nói gì đến việc ra mở cửa. Tiếng gọi càng gấp gáp: “Chị ơi, Cha bị sao ý, cha cứ ú ớ cái gì đó mà em gõ cửa chẳng có phản ứng gì! Hay là…”, “Em chạy vào lấy cái móng ra đây cho chị, phá cửa thôi, nhỡ ra có chuyện chẳng lành”. Rầm một cái, chiếc cửa ọp ẹp, mỏng manh bị tung ra, hai Dì chạy vội vào phòng, nhìn bộ dạng của Anh, Dì đứng tuổi hơn chạy lại, sờ vào trán Anh hốt hoảng: “Lạy Chúa tôi, sao sốt cao dữ vậy?Nóng thế này khéo phải trên 39 độ. Em về phòng lấy thuốc hạ sốt, dụng cụ truyền nước nữa cho chị”.

Những ngày sau đó là quãng thời gian mà Anh gần như chẳng làm được việc gì. Cơn sốt tuy đã hạ nhưng cơ thể vẫn rã rời. Chỉ cần bước vài bước ra sân là đầu óc quay cuồng, chân tay bủn rủn như không còn chút sức lực nào. Anh đành nằm yên trong phòng, thẫn thờ nhìn ra bên ngoài qua khung cửa sổ nhỏ. Càng nằm, Anh càng thấy lòng nặng trĩu. Mới hăm hở lên đây với biết bao quyết tâm phục vụ, vậy mà chưa kịp làm được điều gì ra hồn đã trở thành gánh nặng cho người khác. Hai Dì vốn đã tất bật đủ thứ việc: dạy giáo lý, thăm bệnh nhân, lo cơm nước... giờ lại phải dành thêm thời gian phục vụ Anh. Nghĩ đến đó, Anh thấy ngượng ngùng và khó chịu với chính mình.


aCó những lúc nhìn qua cửa sổ, thấy các Dì lặng lẽ làm việc giữa cái nắng gay gắt của miền núi, còn mình chỉ nằm bất động trên giường, Anh thở dài: “Mình lên đây để giúp người ta hay để người ta phục vụ mình vậy?”
Lần nọ, Dì trẻ mang cháo vào phòng. Thấy Anh ngồi tựa lưng vào thành giường, ánh mắt đượm buồn nhìn xa xăm ra ngoài cửa sổ, Dì đặt tô cháo xuống rồi hỏi:
- Cha lại suy nghĩ lung tung nữa phải không?
Anh cười, nụ cười có phần gượng gạo:
- Con thấy mình vô dụng quá Dì ạ. Mới lên chưa làm được trò trống gì đã nằm một đống thế này. Đúng là thành gánh nặng cho mọi người.
Dì kéo chiếc ghế nhựa lại ngồi gần đó.
- Cha nghĩ vậy là không đúng rồi.
- Sai chỗ nào cơ? Anh ngạc nhiên hỏi lại.
- Vì Cha cứ nghĩ truyền giáo là phải làm cái gì lớn lao lắm. Nhưng nhiều khi Chúa chỉ cần Cha hiện diện ở đây thôi. Cái đó chúng con vẫn nói vui với nhau là mầu nhiệm của sự hiện diện đó Cha.
Anh khẽ lắc đầu, cười khổ:
- Dì thật biết cách an ủi. Hiện diện kiểu nằm liệt giường thế này thì có ích gì chứ?
Dì bật cười.
- Có chứ. Cha biết không, từ hôm Cha lên, bà con nhắc tới Cha suốt. Có cụ già bảo: “Mừng quá, cuối cùng Chúa cũng gửi một Cha lên với chúng tôi. Phải thương mình cỡ nào mới có thể bỏ tiện nghi để lên đây, chịu cảnh thiếu thốn trăm đường thế này chứ”. Đó, chỉ cần cảm được trái tim của Cha người ta đã vui rồi.
Anh im lặng.
Dì tiếp tục:
- Với lại, Cha tưởng mình cha có quyền được yêu thương, phục vụ á/ Cha cũng phải cho người khác cơ hội được yêu thương và phục vụ chứ.
- Ý Dì là sao?
- Là nếu lúc nào Cha cũng khỏe mạnh, cũng mạnh mẽ, cũng giúp đỡ người khác, thì người khác lấy đâu cơ hội để giúp Cha? Yêu thương đâu phải chỉ là cho đi, đôi khi yêu thương còn là biết khiêm tốn đón nhận, để tạo cơ hội cho người khác sống tình yêu nữa đó.
Nói rồi Dì đẩy tô cháo về phía Anh.
- Thôi, muốn giúp thì Cha cố mà ăn hết tô cháo này. Cha mà không mau khỏe thì chị em con còn khổ dài dài.

Anh bật cười thành tiếng. Đó là lần đầu tiên sau nhiều ngày bệnh, Anh cảm thấy lòng mình nhẹ đi đôi chút. Từ lúc Anh ốm, Dì trẻ đảm nhận thêm việc chăm sóc Anh. Lúc thì mang cơm mang thuốc, khi thì sợ Anh nằm một chỗ buồn nên vào tán chuyện cùng Anh. Những việc ấy đối với Dì có lẽ chỉ là một phần rất nhỏ trong vô vàn công việc thường ngày. Thế nhưng đối với Anh, chúng lại âm thầm để lại những gợn sóng trong tâm hồn.

Ban đầu, Anh chỉ đơn thuần cảm thấy ấm áp vì giữa nơi xa lạ này vẫn có người tận tình chăm sóc mình, vì trong những ngày yếu đuối nhất, Anh không phải một mình gặm nhấm nỗi cô đơn. Nhưng rồi Anh nhận ra mình bắt đầu chờ đợi. Mỗi lần nghe tiếng Dì ngoài sân, lòng Anh lại khẽ dao động. Anh chờ đợi tiếng gõ cửa quen thuộc. Những điều ấy thoạt đầu rất nhỏ, nhỏ đến mức Anh tự nhủ rằng đó chỉ là sự quý mến bình thường giữa những người cùng chung sứ mạng. Nhưng trái tim con người vốn không đơn giản như những lý luận của lý trí.

Một chiều nọ, sức khỏe đã khá hơn, Anh chầm chậm ra sân. Từ xa, Anh nhìn thấy Dì đang ngồi dạy giáo lý cho đám trẻ người dân tộc. Đám nhỏ nghịch ngợm, cười đùa ầm ĩ. Dì phải kiên nhẫn “vật lộn với đám tiểu yêu ấy”. Có lúc bọn trẻ nô đùa nhau, một đứa khóc ré lên, Dì lại dịu dàng an ủi, cúi xuống lau nước mắt cho em. Vất vả là thế mà chẳng thấy nét cau có nào trên gương mặt thanh tú của Dì. Giọng nói vẫn ấm áp dịu dàng, đôi môi xinh xắn còn vương lại nụ cười thật duyên dáng. Nắng chiều trải vàng, chiếu xuống khoảng trống nơi Dì đang đứng. Gió từ sườn núi thổi tới làm lọn tóc Dì bay nhè nhẹ trước trán. Anh đứng lặng nhìn khung cảnh ấy rất lâu. Không hiểu vì sao, trong lòng Anh bỗng dâng lên một cảm giác thật đẹp và ấm áp đến nao lòng. Và cũng chính lúc ấy, Anh giật mình, bởi Anh nhận ra mình đang ngắm nhìn Dì với một tâm thế không hoàn toàn vô tư.

Đêm hôm đó, Anh trằn trọc mãi không ngủ được. Lần đầu tiên sau nhiều năm linh mục, Anh cảm thấy sợ những rộn ràng, loạn nhịp của trái tim mình. Mọi thứ đến giờ phút này đều trong sáng, và cũng bởi quá trong sáng nên Anh càng hoang mang. Nếu đó chỉ là một cơn cám dỗ tầm thường bởi những điều xấu xa, Anh đã biết cách đối phó. Nhưng điều làm Anh lo lắng là sự quý mến ấy xuất phát từ những điều rất đẹp: sự hy sinh, lòng quảng đại, sự tận tụy và niềm vui phục vụ của Dì. Lần đầu tiên Anh hiểu rằng đời sống độc thân thánh hiến khó không chỉ vì phải từ bỏ những điều xấu, nhưng còn vì phải từ bỏ cả những điều rất đẹp.

Những đêm sau đó, Anh thường quỳ rất lâu trước Nhà Tạm. Có đêm Anh chỉ lặng thinh, ngồi đó mà lòng cứ như có lửa đốt. Có đêm Anh thở dài, nói với Chúa như một người bạn: “Lạy Chúa, con tưởng mình đã mạnh hơn thế này. Con tưởng chuyện tình cảm sẽ không bao giờ là rào cản đối với con nữa” Một khoảng lặng kéo dài. Rồi một tiếng nói thầm thĩ chợt âm vang trong lòng Anh: “Con nghĩ mình mạnh à? Chẳng quan từ trước đến nay con chỉ sống trong những hoàn cảnh không buộc con phải chiến đấu thôi!” Câu trả lời ấy như một nhát dao nhẹ nhưng sắc. Anh chợt hiểu. Bao năm qua, Anh vẫn nghĩ mình trung thành vì yêu Chúa. Nhưng rất có thể một phần nào đó là vì Anh chưa thực sự gặp điều gì đủ sức thử thách trái tim mình.

Bây giờ, lần đầu tiên Chúa cho Anh nhìn thấy con người thật của mình. Anh không phải một linh mục đã hoàn toàn thoát tục, vượt lên trên mọi nhu cầu tình cảm. Vẫn còn đó trong Anh là một con người bình thường, có khả năng rung động, khao khát được yêu thương và thấu hiểu. Nhận ra điều đó khiến Anh bừng tỉnh khỏi những ảo tưởng về chính mình. Hình ảnh trái tim đầy sẹo trong giấc mơ năm nào bỗng hiện về. Lần này Anh hiểu rõ hơn lời Chúa nói với Anh trong giấc mơ. Những vết thương không chỉ đến từ hoàn cảnh nghèo khó, bệnh tật hay những gian khổ của vùng truyền giáo, mà còn có những vết thương sâu hơn và âm ỉ hơn nhiều. Đó là khi người ta phải từ bỏ một điều mình trân quý để giữ trọn một tình yêu lớn hơn. Đó là khi người ta không giữ riêng cho mình điều đáng lẽ mình có quyền giữ. Đó là khi người ta phó trao cho Chúa cả những rung động đẹp nhất của trái tim.

Anh bỗng mỉm cười. Lần đầu tiên sau nhiều tuần lễ giằng co. Bởi Anh hiểu rằng điều Chúa muốn nơi người môn đệ không phải là một trái tim bằng đá, không biết rung động trước tình người, mà ngược lại, Ngài muốn một trái tim biết yêu thật sâu, nhưng thay vì dừng lại nơi một người, trái tim ấy phải học cách mở rộng ra cho tất cả. Và có lẽ, chính lúc đó, Anh mới thực sự bắt đầu hiểu thế nào là yêu Chúa bằng tất cả trái tim mình.

 

Tác giả: Văn Hoạt

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây