Kiệt tác từ trong tan vỡ

Thứ ba - 02/06/2026 05:46  33
z7892848799237 b9e6b0a407d43217088cebe798544fb5Tôi viết những dòng này khi thanh âm của một ngày hè rực lửa tại Sài Gòn bắt đầu chìm vào cái dịu mát hiếm hoi của đêm muộn. Dạo bước qua những con phố thân quen, nhìn ánh đèn neon hắt xuống mặt đường loang loáng sau một trận mưa rào bất chợt, lòng tôi bỗng chốc chùng xuống. Mùa hè mang đến cho phố thị một nhịp sống khác, hối hả hơn với những chuyến xe xuôi ngược, nhưng lại để lại một khoảng lặng mênh mông trong tâm hồn một người giáo lý viên vừa kết thúc hành trình một năm giảng dạy. Giữa dòng người ngược xuôi trên đại lộ, tôi chợt nhìn thấy bóng dáng quen thuộc của các em thiếu nhi mới lớn lớp giáo lý trong những cô cậu học trò đang tụm năm tụm ba bên quán nước vỉa hè. Tiếng cười đùa giòn giã, cả những cái nhíu mày lo lắng cho mùa thi cử trước mắt của các em bỗng chốc đánh thức trong tôi cả một trời thương nhớ. Chính trong không gian đậm đặc chất “Sài Thành” ấy, những suy tư vụ dại và non nớt của tôi bắt đầu nảy nở. Tôi tự hỏi, liệu sau một năm ròng rã, những bài học về nhân vị, về lòng thương xót mà tôi cố công truyền đạt có kịp bén rễ trong tâm hồn các em, hay chúng sẽ sớm bị cuốn trôi theo dòng chảy thực dụng và khắc nghiệt của cuộc mưu sinh ngoài kia? Tôi nhận ra mình cũng chỉ là một người bộ hành dại khờ, mang một tâm hồn trần trụi và đầy giới hạn đi giữa lòng thành phố, cố gắng tìm kiếm một nốt nhạc cứu độ để ráp nối vào những khoảng trống trong lịch sử cụ thể của từng em.

Tôi chọn tiêu đề “KIỆT TÁC TỪ TRONG TAN VỠ” bởi nó thâu tóm trọn vẹn cả chiều sâu nhân học lẫn linh đạo thương xót trong hành trình huấn giáo. Xã hội hiện đại ngày nay vận hành như một bài toán hiệu năng nghiệt ngã, nơi người trẻ luôn sợ hãi những đổ vỡ, thất bại và có xu hướng “ăn gian” phẩm giá để chạy theo những quy chuẩn láng mượt bên ngoài. Thế nhưng, giá trị đích thực của một con người không được đo bằng sự hoàn hảo vô hồn, mà được tìm thấy ngay trong thực tại trần trụi và những tổn thương sâu kín nhất. Người giáo lý viên không phải là một kỹ sư đi sửa chữa những linh kiện hỏng, mà là người đồng hành, dùng tình yêu liên lụy để cùng lặn sâu vào cuộc đời các em. Tiêu đề này là một lời khẳng định đầy hy vọng: qua tình yêu thương xót và sự kiên nhẫn li lợm, mọi vết thương, mọi mảnh vỡ tưởng chừng dở dang trong cuộc đời người trẻ đều có thể được ân sủng dệt nên thành một kiệt tác siêu việt của tình yêu.

Bài viết này không phải là một công trình thần học uyên bác, mà chỉ là tiếng lòng thổn thức của một người anh, một người đồng hành dám đưa đôi chân trần của mình chạm vào thực tế. Đó là tâm tình tri ân xen lẫn những thao thức khôn nguôi, là khát vọng muốn nhìn thấy mỗi em thiếu nhi trong lớp giáo lý nhận ra phẩm giá thánh thiêng của mình giữa một thế giới đang có nguy cơ phi-nhân-vị-hóa. Đêm Sài Gòn vẫn bao dung ôm lấy những mảnh đời góc khuất, và tôi cũng xin gửi gắm những suy tư vụng về này vào lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa, với niềm xác tín rằng, những dở dang của ngày hôm nay sẽ được Ngài kiện toàn trong một ngày mai viên mãn.
***
Câu chuyện cuộc đời

Bình thường, một bài toán đúng chỉ có một kết quả. Trong toán học, khi các dữ kiện đã được bày ra trên mặt giấy, kết quả gần như đã định hình và những phương thức giải dù biến thiên thế nào cũng chỉ dắt dìu con người đi về một lối mòn lôgíc cố định. Nhưng cuộc đời con người, và nhất là hành trình của một người trẻ bước vào thế giới hiện đại hôm nay, chưa bao giờ là một bài toán đúng nghĩa. Nó phải là một câu chuyện. Câu chuyện thì đầy rẫy những bất ngờ, những khúc quanh dập dềnh và những tình tiết vừa chân thực, vừa ly kỳ. Khi tôi kết thúc một năm đồng hành với các em thiếu nhi ngành Nghĩa, tôi chợt nhận ra mình không phải là một giám khảo đang ngồi chấm những bài thi nhân cách , cũng không phải là một kỹ sư đang ráp nối những linh kiện cho một bộ máy vận hành xã hội. Tôi chỉ là một người kể chuyện, và sâu xa hơn, là một người được diễm phúc lặn xuống tảng sâu trong phòng khám cuộc đời của các em để cùng viết tiếp những dòng yêu thương vào trang sách đời còn dang dở.

Xã hội hiện đại hôm nay đang vận hành như một bài toán khổng lồ đầy tính toán lý trí. Đó là một thế giới của khoa học thực nghiệm, nơi con người tự đắc về những đáp án của mình nhưng lại luôn bất an về căn tính đích thực. Chúng ta đang sống trong một cấu trúc xã hội chuộng hiệu năng, lấy quy luật “thuận mua vừa bán” làm thước đo tối thượng để điều phối các tương quan tương thân tương ái. Quy luật trao đổi ấy dẫu có cao hơn quy luật sinh vật “cá lớn nuốt cá bé” ở thời mông muội, nhưng trớ trêu thay, bóng ma của sự bóc lột tinh vi và thói mạnh được yếu thua vẫn ẩn nấp đâu đó trong từng ngõ ngách của đời sống. Giới trẻ ngày nay, đặc biệt là các em Nghĩa Sĩ bước vào tuổi dậy thì với những khủng hoảng tâm sinh lý, đang phải chạy đua trên một đường đua nghiệt ngã. Người ta đánh giá, xếp hạng các em dựa trên tiêu chuẩn phẩm cách và chức năng: điểm số học tập, điều kiện gia cảnh, năng lực ngoại ngữ hay sự láng mượt của vẻ bề ngoài. Hệ thống ấy ép uổng người trẻ phải sa vào thái độ “ăn gian” với chính mình. Để được chấp nhận, hình như các em phải loay hoay “trang điểm” cho bản thân bằng những “sự vật” bên ngoài , dùng cái “mình có” để che đậy cái “mình là”, cố biến phẩm giá tự tại thiêng liêng thành một món hàng có thể đem ra trao đổi, mua bán.

Chính trong bối cảnh một xã hội bị đảo ngược căn tính ấy, vai trò của việc dạy giáo lý trở nên cấp bách và mang tính ngôn sứ hơn bao giờ hết. Giáo lý không phải là một môn học chuyển tải kiến thức khô khan theo kiểu từ chương, và người giáo lý viên không thể đứng trên bục giảng như một kẻ ban phát chân lý một chiều theo lối áp đặt lý trí. Nếu Giáo hội không phải là một tổ chức phi chính phủ mà là một câu chuyện tình yêu sinh ra trong trái tim của Chúa Cha, thì việc dạy giáo lý thiết yếu phải là một tiến trình khơi mở câu chuyện tình yêu ấy nơi lịch sử cụ thể của từng nhân vị. Khi đối diện với những đôi mắt ngơ ngác nhưng đầy nổi loạn của các em, tôi thấy lương tâm mình bị thôi thúc bởi một câu hỏi siêu hình: Làm sao để các em nhận ra phẩm giá trần trụi tôn nghiêm của mình, một phẩm giá không do xã hội cấp phát theo điều kiện, cũng không do tài năng tự thân kiếm được, mà là một hồng ân tặng-không từ thuở đời đời?

Tiếng gọi

Để tìm kiếm một điểm tựa Huấn quyền vững chắc cho những thao thức ấy, chúng ta được mời gọi lắng nghe tiếng nói mới nhất từ Tòa Thánh qua Thông điệp Magnifica Humanitas (Nhân tính Cao cả) do Đức Thánh Cha Lêô XIV ban hành ngày 25 tháng 5 năm 2026[1]. Trong văn kiện mang tính bước ngoặt này, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định nền tảng nhân học Kitô giáo giữa một thế giới đang có nguy cơ bị phi-nhân-vị-hóa bởi làn sóng công nghệ và chủ nghĩa thực dụng thực dụng[2]. Ngài nhấn mạnh rằng cứu cánh của nhân loại không nằm ở những định chế cơ cấu khô khan hay những thành tựu kỹ thuật mang tính hiệu năng, mà nằm ở một “nhân tính được cứu chuộc”, nơi mỗi cá vị được trân trọng như một huyền nhiệm độc nhất vô nhị[3].

Tinh thần ấy của Đức Lêô XIV gặp gỡ một cách diệu kỳ với linh đạo của người nghèo và cái nhìn sâu sắc về phẩm giá con người mà chúng ta thấy nơi các bậc thánh nhân. Đến đây, chúng ta có thể dừng lại để chiêm ngắm mẫu gương của một vị Thánh mà tôi cho là tiêu biểu cho nhận định trên của Đức Lêô XIV: Thánh Martino de Porres. Thánh Martino, một cậu bé da đen đứng ở tận cùng đáy bậc thang xã hội tại Lima thế kỷ XVI, đã không chọn cách đối phó với những bất công, kỳ thị bằng bạo lực hay thói bất mãn oán hờn. Ngài đã chọn một sự an hòa sâu thẳm trong tình thương xót, chấp nhận thế đứng trần trụi của mình để Thiên Chúa đi vào cuộc đời mình. Thiên Chúa không làm mới cuộc đời Thánh Martino bằng cách đẽo gọt gượng gạo hay cắt bỏ lịch sử đau thương của cậu; Ngài đi vào chính bài toán nghiệt ngã ấy để ráp nối, biến nó thành một câu chuyện cứu độ bi tráng và lẫy lừng.

Đối với người giáo lý viên hôm nay, Magnifica Humanitas đưa ra một chỉ dẫn hành động mang tính cách mạng: chúng ta phải giáo dục người trẻ khởi đi từ việc nhìn nhận “ngã vị” hơn là “phẩm cách”. Một thế giới chuộng nhân cách mạnh theo kiểu tự phụ sẽ chỉ tạo nên những cá nhân biệt lập, lo phòng vệ và tính toán. Trái lại, tình yêu Kitô giáo đặt nền tảng trên một “cộng đồng ngôi vị”, nơi mỗi thành viên không chỉ đóng góp chức năng, tài năng mà là trao tặng chính cái tôi toàn vẹn của mình, đồng thời đón nhận trọn vẹn cái tôi của tha nhân. Ở tuổi Nghĩa Sĩ, các em thường có xu hướng giấu mình sau những chiếc mặt nạ của sự ngổ ngáo hoặc khép kín. Các em sợ mình không được yêu chân thật, sợ cái nghèo, cái dốt hay những đổ vỡ trong gia đình sẽ biến mình thành kẻ thua cuộc trong bài toán cuộc đời. Nếu người giáo lý viên cũng hùa theo thói đời, dùng thang điểm thi đua xã hội để định giá các em, chúng ta đang biến lớp học giáo lý thành một cộng đồng chức năng nghèo nàn và nhuốm màu trục lợi.

Thông điệp Magnifica Humanitas nhắc nhở rằng: “Nhân tính chỉ thực sự trở nên cao cả khi nó dám cúi xuống chạm vào những tổn thương của thực tại, nhận ra rằng mọi sự hiện hữu đều là một mối nợ nghĩa tình với Đấng Tạo Hóa”[4]. Khi dạy các em về các mầu nhiệm đức tin, tôi nhận ra điều quan trọng nhất không phải là ép buộc các em chấp nhận một sự cưỡng ép lý trí trước các chân lý trừu tượng. Nếu một điều chân hay điều thiện mà thiếu đi giá trị Mỹ, cái đẹp của tình yêu liên lụy và lòng trân trọng, thì đời sống đức tin của người trẻ sẽ sớm rơi vào tình trạng “đạo chịu vậy”, xem việc giữ đạo như một thứ đóng thuế bắt buộc để mua vé vào cửa Thiên Đàng. Người giáo lý viên phải giúp các em nhìn thấy nét đẹp Nước Trời đang ẩn tàng ngay trong địa tầng của cuộc sống thường ngày : trong cái ăn, cái học, trong niềm vui đơn sơ và cả trong những nỗi đau, vết thương đang rỉ máu của gia đình các em.

Tác vụ huấn giáo

Hành trình một năm tham gia công việc Huấn giáo còn là một sự phản tỉnh sâu sắc khi tôi có dịp tìm hiểu và đặt mình trong dòng chảy Huấn quyền của Giáo hội về tác vụ giáo lý viên. Nhìn lại lịch sử văn kiện, từ Tông huấn Catechesi Tradendae (1979) của Đức Gioan Phaolô II[5], qua Hướng dẫn Tổng quát về việc Dạy Giáo lý (2020)[6], cho đến Tông thư Antiquum Ministerium[7] của Đức Giáo hoàng Phanxicô[8], Giáo hội chưa bao giờ ngừng nhấn mạnh đến căn tính mang tính thừa tác của người giáo lý viên.

Thánh Gioan Phaolô II trong Catechesi Tradendae đã khẳng định một nguyên lý cốt lõi: mục đích của việc dạy giáo lý không phải chỉ là truyền thụ một học thuyết, mà là đưa con người vào sự hiệp thông cá vị với Chúa Giêsu Kitô[9]. Sự hiệp thông này không thể diễn ra trong bầu khí của sự áp đặt, mà phải là một giao ước siêu nhiên, nơi con người chết đi cho cái tôi cũ để sống cuộc đời như một tạo vật mới. Khi bước sang thế kỷ XXI, trước những thách đố kinh hoàng của chủ nghĩa tương đối và sự tục hóa, Hướng dẫn Tổng quát về việc Dạy Giáo lý (2020) đã chuyển dịch trọng tâm từ một “giáo viên dạy giáo lý” sang một “người đồng hành và chứng nhân”[10]. Người giáo lý viên không đứng ngoài câu chuyện đời của học viên; họ phải lặn sâu vào thực tại của thế giới hiện đại để làm chứng rằng Tin Mừng có sức mạnh giải thoát con người khỏi những cấu trúc bất công và hàn gắn những đổ vỡ căn tính.

Đặc biệt, với Tông thư Antiquum Ministerium, Đức Phanxicô đã chính thức thiết lập Tác vụ Thừa tác viên Giáo lý[11]. Đây không còn là một công việc tình nguyện mang tính ngẫu hứng hay nhất thời, mà là một tác vụ chính thức, đòi hỏi một sự dấn thân liên lụy sâu xa với Giáo hội địa phương. Đức Phanxicô viết rằng người giáo lý viên được gọi để biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng cứu độ con người bằng cách “đỡ từ chân” chứ không phải “nắm tóc”. Điều này đòi hỏi một nhân cách mạnh mẽ, một nhân cách biết nghiêm khắc với chính mình nhưng lại đầy khoan dung và dịu dàng với người khác.

Sự kết hợp giữa tinh thần thừa tác viên của Antiquum Ministerium và chiều kích nhân vị của Magnifica Humanitas đã mở ra cho tôi một nhãn quan mới khi làm việc với các em ngành Nghĩa Sĩ. Các em Nghĩa Sĩ, với đặc trưng của ngành là dòng máu anh hùng, luôn khao khát khẳng định mình và muốn làm những chuyện lớn lao. Tuy nhiên, chủ nghĩa anh hùng tự nhiên ấy luôn hàm chứa một nguy cơ lớn: người ta dễ dàng chọn “cái lý” mà hy sinh “cái tình”, tính toán hiệu quả trước mắt mà coi nhẹ phẩm tính chân thật của mỗi hành vi nhỏ bé thường ngày. Dưới ánh sáng của thông điệp mới của Đức Lêô XIV, tôi phải giúp các em hiểu rằng con đường thuận mệnh và thánh thiện đích thực không phải là “đi giày cao gót” để cao hơn người khác , mà là bước đi với đôi chân trần đơn sơ, dám nhìn nhận cái nghèo mang tính tôn nghiêm của phận người để đón nhận ơn sủng.

Khơi nguồn Lòng thương xót

Một năm tham gia sứ vụ Huấn giáo tại đây là một chuỗi ngày tôi phải chiến đấu với căn bệnh giả hình của chính mình, căn bệnh sợ đưa chân ra cho Chúa nhìn thấy, sợ đối diện với cái tôi thực sự để rồi trốn chạy vào lớp vỏ đạo đức đáng kính sợ. Chỉ khi người giáo lý viên dám hòa giải với bản thân, dám chấp nhận mình là tro bụi và là kẻ mắc nợ nghĩa tình trước mặt Chúa, họ mới có thể cúi xuống ôm lấy những góc khuất trong tâm hồn các em thiếu nhi.

Trong các giờ giáo lý, khi nhìn thấy một em Nghĩa Sĩ hay quậy phá, chia trí, lương tâm tôi thường bị kéo vào một bài toán định kiến: liệu có nên dùng kỷ luật thép để trừng phạt, hay loại trừ em ra khỏi hàng ngũ để giữ gìn thành tích thi đua của lớp? Nhưng rồi, Lòng Xót Thương của Thiên Chúa lại thức tỉnh tôi. Tôi nhận ra em đang chơi trò “ăn gian” vì sợ hãi, vì thiếu vắng một tình yêu chấp nhận ngã vị trần trụi của em. Thiên Chúa không đòi hỏi các em phải có một nhân cách hoàn hảo như một điều kiện tiên quyết để Ngài yêu thương; tình yêu của Ngài đảm nhận nhân cách yếu nhược ấy để chữa trị và nâng đỡ từ từ. Người mẹ chân chính không đợi con ngoan rồi mới nhận làm con; bà phải liên lụy, gánh vác cả những ngỗ nghịch của đứa trẻ để giúp nó thăng tiến. Người giáo lý viên cũng phải mang lấy tâm tình ấy. Chúng ta được sai đến không phải để loại bỏ cỏ dại bằng việc nhổ cỏ, mà là bằng cách kiên nhẫn “trồng bông”; không phải bằng một cuộc xử án phân định đúng sai, mà là thông qua một quá trình yêu thương dài dòng và li lợm.

Xã hội hôm nay đang gieo rắc quá nhiều thứ niềm vui được xây dựng bằng cách so sánh, định giá và thỏa mãn khi thấy kẻ khác sa ngã hay thấp kém hơn mình. Giới trẻ chìm đắm trong thế giới ảo để giải tỏa những uất ức của thực tại. Đứng trước thực trạng đó, việc dạy giáo lý phải là nơi khơi nguồn cho các em một thứ niềm vui đích thực: niềm vui được thuộc về một cộng đoàn siêu nhiên, nơi mọi sự đều được đón nhận với lòng tri ân sâu thẳm. Giống như biểu thức tình yêu Kitô giáo trong giao ước hôn nhân hay tương quan gia đình , tương quan giữa giáo lý viên và các em Nghĩa Sĩ phải là một sự cam kết đồng hành trọn vẹn trên hành trình đầy biến động thăng trầm của lịch sử. Sự hiệp thông này mang tính “móng nền” chứ không phải sự ăn khớp “kèo cột” mang tính chức năng. Dù các em có khác biệt tính tình, dù có những xung đột thường xuyên, các em vẫn phải cảm nhận được mình được trân trọng bởi một tình yêu không biên giới, một tình yêu có khả năng đổ vào vạt áo các em những lường đong tràn trề của ân sủng.

Khi năm học giáo lý khép lại, nhìn lại chặng đường đã qua, tôi hiểu rằng những vết chai sần trên hành trình phục vụ, những giọt mồ hôi rơi trên trang giáo án, và cả những giọt nước mắt bất lực trước những ca giáo lý khó khăn, tất cả đều không uổng phí. Chúng không cần phải được gột rửa hay che đậy bằng những hào nhoáng bề ngoài. Năm vết thương của Chúa Giêsu sau Phục Sinh không bị xóa nhòa, bởi vì chúng là dấu tích lịch sử của một tình yêu vĩnh cửu, là nét Mỹ siêu việt của ơn cứu độ. Những trải nghiệm dở dang, những vụng về của một năm qua nơi công việc huấn giáo cũng vậy; chúng được đặt vào lòng thương xót Chúa để Ngài tiếp tục viết nên một đoạn kết kỳ diệu.

Lời cuối cùng này, tôi xin được trân trọng gửi đến những người giáo lý viên đang ngày đêm âm thầm hao mòn bên trang giáo án. Sứ mạng huấn giáo của chúng ta chưa bao giờ là một bài toán dễ dàng có sẵn đáp số, lại càng không phải là một chức năng xã hội để đổi lấy những tiếng vỗ tay khen ngợi. Nhưng xin bạn hãy nhớ rằng chúng ta không cô độc; nhân tính chỉ thực sự trở nên cao cả khi nó dám cúi xuống chạm vào thực tại bằng lòng thương xót. Xin đừng bao giờ từ bỏ việc “trồng bông” giữa lòng sa mạc, bởi vì tình yêu liên lụy và li lợm của bạn chính là minh chứng hùng hồn nhất cho nét đẹp Nước Trời đang hiện diện ngay giữa thế gian hôm nay. Hãy tiếp tục bước đi bằng một nhân cách mạnh mẽ nhưng đầy dịu dàng, để cùng nhau, chúng ta biến hành trình huấn giáo thành một bài ca hiệp thông không bao giờ tắt.

[1] X. Lêô XIV, Thông điệp Magnifica Humanitas (25 tháng 5 năm 2026), số 12 (Người viết lấy nội dung và ý tưởng trên bản Anh ngữ tại trang https://www.vatican.va/content/leo-xiv/en/encyclicals/documents/20260515-magnifica-humanitas.html)
[2] Ibid., số 24
[3] Ibid., số 45
[4] Ibid., đoạn 67
[5] X. Gioan Phaolô II, Tông huấn Catechesi Tradendae (16 tháng 10 năm 1979), AAS 71 (1979), 1277-1340
[6] X. Hội đồng Tòa Thánh về Tái Phúc-Âm-hóa, Hướng dẫn Tổng quát về việc Dạy Giáo lý (Directory for Catechesis), Vatican Edition, 2020
[7] X. Phanxicô, Tông thư tự sắc Antiquum Ministerium (10 tháng 5 năm 2021), AAS 113 (2021), 495-502
[8] X. Gioan Phaolô II, Catechesi Tradendae, số 5
[9] X. Hướng dẫn Tổng quát về việc Dạy Giáo lý (2020), số 113
[10] X. Phanxicô, Antiquum Ministerium, số 6

Tác giả: Đức Hữu

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây