Suy niệm về câu chuyện người phụ nữ Samari trong bài Tin Mừng hôm nay chính là dịp giúp cho mỗi tín hữu nhìn lại hành trình đức tin của mình, để khám phá ra Chúa Giêsu là nguồn nước hằng sống trong cuộc đời mình. Vậy chúng ta khám phá bằng cách nào?
Trước hết, mỗi người chúng ta cần nhận ra con người thật của mình qua việc nhìn lại chính tâm hồn mình. Trong cuộc sống bận rộn, nhiều khi chúng ta không còn những giây phút thinh lặng để bình tâm nhìn lại đời mình, để nhận ra tình trạng thiêng liêng của mình trước mặt Chúa. Trong bài Tin Mừng hôm nay, khi gặp người phụ nữ Samari, Chúa Giêsu đã dẫn chị đi vào một cuộc đối thoại giúp chị nhìn lại cuộc đời mình. Người nói: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây.” Người phụ nữ đáp: “Tôi không có chồng.” Đức Giêsu bảo: “Chị nói: ‘Tôi không có chồng’ là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng” (Ga 4,16-18). Chúa Giêsu gọi về quá khứ của chị không phải để kết án chị, nhưng để đánh thức lương tâm chị, giúp chị nhìn thấy sự thật về con người và cuộc đời chị.
Thực vậy, trong cuộc sống, con người thường mải mê tìm dục vọng, tiền bạc, danh vọng và của cải trần thế, nhưng tất cả những thứ ấy không thể lấp đầy được khát vọng sâu xa của tâm hồn. Ông Thánh Augustinô thành Hippo đã diễn tả kinh nghiệm này trong lời cầu nguyện nổi tiếng của ngài: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, nên tâm hồn con mãi khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa” (Tự Thuật, I,1). Chỉ khi trở về với Thiên Chúa, con người mới tìm được sự bình an hạnh phúc đích thực.
Tiếp theo, khám phá Chúa Giêsu là mạch nước hằng sống. Sau khi giúp người phụ nữ nhận ra sự thật về mình, Chúa Giêsu mạc khải cho chị một điều lớn lao hơn: “Ai uống nước này, sẽ lại khát. Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”.
(Ga 4,13-14). Để hiểu điều này, chúng ta nhớ lại một biến cố trong Cựu Ước mà chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ nhất. Khi dân Israel đi trong sa mạc, họ khát nước và kêu trách ông Môsê: “Tại sao ông lại đưa chúng tôi lên khỏi Ai Cập để làm cho chúng tôi, con cái chúng tôi và súc vật của chúng tôi phải chết khát?” (Xh 17,3). Ông Môsê đã cầu xin Đức Chúa, và Người phán: “Ngươi sẽ đập vào tảng đá. Từ tảng đá, nước sẽ chảy ra cho dân uống” (Xh 17,5-6). Ông Môsê đã tin vào lời Chúa, và nước đã chảy ra từ tảng đá giữa sa mạc khô cằn. Các Giáo phụ nhìn thấy nơi tảng đá ấy một hình ảnh tiên báo về Đức Kitô. Chính ông Thánh Tôma Aquinô đã giải thích rằng: “Tảng đá trong sa mạc tượng trưng cho Đức Kitô; từ cạnh sườn Người tuôn chảy nguồn nước sự sống cho nhân loại”. Thực vậy, Chúa Giêsu chính là “đá tảng góc tường” đem lại sự sống cho con người để những ai tin vào Người sẽ không phải đói khát nữa vì chính khi Người bị chết treo trên cây Thập tự, máu và nước từ cạnh sườn Người đã tuôn trào ân sủng cho những ai tin vào Ngài.
Khi con người tin vào Chúa, họ không chỉ nhận được nước hằng sống, mà còn nhận được ân sủng và niềm hy vọng. Thánh Phaolô viết: “Vậy, một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giê-su Kitô, Chúa chúng ta. Nhờ Người, chúng ta được nhờ đức tin mà vào hưởng ân sủng này” (Rm 5,1-2). Ngài còn khẳng định thêm: “Niềm hy vọng không làm thất vọng, vì tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần” (Rm 5,5). Đó chính là nguồn nước thiêng liêng mà Chúa Giêsu ban cho con người. Thánh Têrêsa Avila ví đời sống thiêng liêng như một khu vườn cần được tưới nước: “Linh hồn giống như khu vườn; ân sủng của Thiên Chúa là dòng nước làm cho khu vườn ấy nở hoa”.
Cuối cùng, nhận ra Chúa để trở thành người loan báo Tin Mừng – cuộc đời nở hoa. Khi người phụ nữ Samari nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Mêsia, chị lập tức chạy vào làng và nói với mọi người: “Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm. Ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?” (Ga 4,29). Nhờ lời chứng của chị, nhiều người Samari đã tin vào Chúa. Sau đó họ nói với chị: “Không còn phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin. Quả thật chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian” (Ga 4,42). Một người phụ nữ từng sống trong tội lỗi lại trở thành người loan báo Tin Mừng đầu tiên cho cả một ngôi làng. Linh hồn chị đã nở hoa thơm vì “Ai đã gặp Đức Kitô thì không thể giữ Người cho riêng mình”.
Kinh nghiệm gặp gỡ Chúa của người phụ nữ Samari hôm nay mời gọi chúng ta bước vào một cuộc gặp gỡ như thế trong Mùa Chay thánh này. Chúa Giêsu là Thiên Chúa giàu lòng xót thương. Dù chúng ta là ai, dù cuộc đời có tội lỗi hay yếu đuối thế nào, Người vẫn sẵn sàng tha thứ và đổi mới chúng ta. Ngài không hỏi: Con đã phạm tội gì? Ngài chỉ hỏi: Con có yêu mến Thầy không? Chính Thánh Phaolô nhắc lại tình yêu ấy: “Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,8). Vì thế, điều cần thiết là chúng ta phải can đảm bỏ lại con người cũ, dứt bỏ lối sống tội lỗi để bước vào đời sống mới trong Đức Kitô.
Ước gì Mùa Chay thánh này là thời gian để mỗi người chúng ta làm lại hành trình đức tin của mình, giống như người phụ nữ Samari. Khi khám phá ra Chúa Giêsu là mạch nước hằng sống, chúng ta cũng sẽ trở thành những chứng nhân cho Người. Và khi chúng ta sống niềm tin ấy, nhiều người khác cũng sẽ nhận ra nơi chúng ta nguồn nước sự sống của Đức Kitô, để họ cũng đến gặp Người và tin vào Người. Amen.
Tác giả: Lm. Jos. Duy Trần