Đức Maria- Mẹ Giáo Hội
Thứ hai - 25/05/2026 04:45
13
Một trong những điều tôi yêu thích nhất khi là một người Công giáo chính là kho tàng chi tiết đồ sộ: từ những danh xưng, địa danh, hình ảnh cho đến các thực hành đạo đức, đã dệt nên diện mạo của Giáo hội chúng ta. Có lẽ phải mất nhiều thế hệ mới có thể tìm hiểu được một nửa trong số đó. Mỗi lần có cơ hội, tôi lại thích đào sâu hơn một chút vào một chi tiết cụ thể. Và dường như, dù nghiên cứu điều gì đi nữa, tôi luôn trở về với một đức tin sâu sắc hơn và một tầm hiểu biết được mở rộng.
Dự án nhỏ gần đây nhất của tôi là tìm hiểu về lịch sử danh hiệu của Đức Maria: Mẹ Giáo hội. Đây là một danh xưng có vẻ lạ lẫm với Đức Maria vì nhiều lý do. Mà thực ra, nào có danh hiệu nào của Đức Mẹ mà không mang tính huyền nhiệm? Chúng ta đang đối diện với những mầu nhiệm siêu nhiên ở đây! Đây là một trong những tước hiệu được Giáo hội chính thức công nhận gần nhất, do Đức Giáo hoàng Phaolô VI công bố vào năm 1964. Trong tiếng Latinh, danh hiệu này chỉ khác một chữ cái duy nhất so với một cụm từ thông dụng khác: “Mẹ của Giáo hội” là Mater Ecclesiae, còn “Mẹ Giáo hội” (bản thân Giáo hội là Mẹ) là Mater Ecclesia.
Hình ảnh Giáo hội (thay vì Đức Maria) trong vai trò là người mẹ vốn đã được các tác giả và nghệ sĩ Kitô giáo thời kỳ đầu sử dụng rất thường xuyên. Có lẽ chính sự phổ biến của việc gọi Giáo hội là mẹ đã khiến Đức Giám mục Sergio Méndez Arceo (Cuernavaca, México), trong cuộc tranh luận về danh hiệu này tại Công đồng Vatican II, đã đưa ra một lời nhận xét vui nhưng có chút suồng sã: “Nếu Giáo hội là mẹ của chúng ta, còn Đức Maria là Mẹ của Giáo hội, thì Đức Maria hóa ra là bà ngoại của chúng ta sao.”
Nguồn gốc chính thức của tước hiệu này bắt nguồn từ Công đồng Vatican II, nơi mà các chủ đề về Đức Maria từng vấp phải nhiều tranh luận nảy lửa. Trong kỳ họp thứ hai của Công đồng vào năm 1963, các giám mục đã bỏ phiếu với tỷ lệ 1.114 phiếu thuận và 1.074 phiếu trống, để rồi đưa đến quyết định không dành riêng một văn kiện độc lập cho Đức Maria, mà thay vào đó sẽ lồng ghép chủ đề về Mẹ vào hiến chế về Giáo hội (sau này chính là Hiến chế Lumen Gentium - Ánh sáng Muôn dân). Với khoảng cách vỏn vẹn 40 phiếu bầu, đây là cuộc bỏ phiếu gây tranh cãi và kịch tính nhất trong toàn bộ Công đồng.
Dù vậy, một năm sau đó, khi ban hành Hiến chế Lumen Gentium (Hiến chế Tín lý về Giáo hội), Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã chính thức tôn vinh Đức Maria là “Mẹ Giáo hội” trong diễn văn bế mạc kỳ họp thứ ba. Quyết định này của Đức Thánh Cha chắc chắn đã làm nức lòng những vị thuộc phe thiểu số trong cuộc bỏ phiếu suýt soát năm trước, những người vốn luôn ủng hộ việc mở rộng giáo lý về Thánh Mẫu học đến mức tối đa.
Kể từ sau công đồng Vatican II, các yếu tố tôn vinh Đức Maria với tước hiệu Mẹ Giáo hội dần được đưa vào đời sống và các thực hành phụng vụ. Chẳng hạn, Thánh lễ tùy chọn kính Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Giáo hội đã được thêm vào Sách Lễ Rôma. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho xây dựng một đan viện ngay trong khuôn viên Vatican và thánh hiến cho Đức Mẹ dưới tước hiệu này (đây cũng từng là nơi nghỉ dưỡng của Đức Cố Giáo hoàng Bênêđictô XVI). Ngài cũng thêm cụm từ “Mẹ Giáo hội” vào Kinh Cầu Đức Bà (Kinh Cầu Loreto) — lời kinh tuyệt đẹp khẩn cầu sự chuyển cầu của Mẹ qua nhiều danh hiệu khác nhau.
Cách Giáo hội khẩn cầu Đức Maria dưới tước hiệu Mẹ Giáo hội chính là kim chỉ nam dẫn lối chúng ta thấu hiểu chính xác mầu nhiệm mà tước hiệu này muốn truyền tải. Chúng ta có thể bắt đầu với chính văn bản của Hiến chế Lumen Gentium, nơi khẳng định rằng Đức Maria đã cộng tác với Con của Mẹ trong việc “tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Vì thế, Ngài là Mẹ chúng ta trên bình diện ân sủng.” (LG 61).
Rõ ràng, chức năng của một người mẹ thể lý là ban tặng sự sống cho con cái. Về mặt thể xác, Đức Maria đã ban sự sống cho Chúa Giêsu; nhưng tình mẫu tử của Mẹ đối với các Kitô hữu chúng ta lại mang một ý nghĩa khác. Đó là tình mẫu tử thiêng liêng: Mẹ làm tăng triển ân sủng trong chúng ta.
Vậy điều đó có nghĩa là gì? Đời sống ân sủng trong chúng ta tăng trưởng bằng cách nào? Câu trả lời là khi chúng ta càng trở nên đồng hình đồng dạng với cuộc đời của Đức Kitô, chúng ta càng lớn lên trong đời sống ân sủng. Và ai là người đã thông phần vào các mầu nhiệm cuộc đời Đức Kitô một cách trổi vượt nhất? Dĩ nhiên là Đức Maria. Chính Mẹ đã cưu mang Chúa Giêsu trong lòng mình. Mẹ đã đứng vững bên thập giá khi Người chịu đóng đinh. Mẹ đã có mặt tại Nhà Tiệc Ly, hiệp thông cầu nguyện cùng cộng đoàn Kitô hữu đầu tiên để đón nhận ơn Chúa Thánh Thần (Cv 1,14). Cuối cùng, Mẹ được hồn xác lên trời, rập khuôn theo sự phục sinh của Con Mẹ. Bốn khoảnh khắc này trong cuộc đời Đức Maria là minh chứng sống động cho sự kết hợp mật thiết của Mẹ vào các mầu nhiệm cuộc đời Con mình.
Còn chúng ta thì sao? Liệu chúng ta có thể thông phần vào sự sống của Đức Kitô không? Thật hạnh phúc, câu trả lời là có. Trong Tuyên ngôn Đức tin của Dân Thiên Chúa (Credo of the People of God), Đức Giáo hoàng Phaolô VI giải thích: “Chúa Giêsu thiết lập Giáo hội của Người qua các Bí tích tuôn tràn từ sự viên mãn của Người. Qua các Bí tích đó, Giáo hội làm cho các chi thể của mình được thông phần vào Mầu nhiệm Tử nạn và Phục sinh của Đức Kitô, trong ân sủng của Chúa Thánh Thần, Đấng ban cho Giáo hội sự sống và chuyển động.” Đối với Kitô hữu, đời sống ân sủng được bắt đầu từ các bí tích. Chúa Giêsu đã để lại các bí tích cho Giáo hội như một phương tiện để chúng ta thông phần, và từ đó, họa lại cuộc đời của chính Người.
Đức Maria thấu hiểu hơn ai hết những phúc lành của việc kết hợp với các mầu nhiệm của Đức Kitô. Mẹ khao khát mọi người đều nhận được những gì Mẹ đã lãnh nhận, vì vậy Mẹ hành động qua Giáo hội để trao ban Chúa Giêsu cho chúng ta.
Thực tế không giống như lời nhận xét dí dỏm của Đức Giám mục Méndez Arceo. Đức Maria không sinh ra Giáo hội rồi Giáo hội lại sinh ra các Kitô hữu (để biến Mẹ thành “bà ngoại”). Giáo hội là Nhiệm thể Đức Kitô, và Đức Maria là Mẹ của các chi thể thuộc Nhiệm thể này. Theo một nghĩa nào đó, Giáo hội cũng được gọi là mẹ vì Giáo hội ban phát các bí tích cho con cái mình. Nhưng các bí tích đó lại được trao ban qua chính các chi thể của Nhiệm thể: linh mục cử hành Bí tích Thánh Thể, các đôi vợ chồng cử hành bí tích Hôn phối, giám mục truyền chức cho các linh mục.
Sự suy luận này đã dẫn Giáo hội đến một nhận thức sâu sắc gần đây: nếu Giáo hội mang đặc tính của một người mẹ khi sinh hạ các Kitô hữu mới, thì đặc tính này vốn được bắt nguồn từ chính tình mẫu tử của Đức Maria. Nhìn từ lăng kính đó, tước hiệu “Mẹ Giáo hội” là hoàn toàn chuẩn xác và trọn vẹn khi dành cho Đức Maria.
Trong bài diễn văn năm 1964, Đức Giáo hoàng Phaolô VI đã bày tỏ ước nguyện của ngài dành cho đoàn dân Kitô giáo: "Chúng tôi tin tưởng rằng, với việc ban hành Hiến chế về Giáo hội, được ấn ký bằng việc tuyên phong Đức Maria là Mẹ Giáo hội - nghĩa là Mẹ của tất cả mọi Kitô hữu và các mục tử - dân Chúa sẽ hướng về Đức Trinh Nữ Thánh với lòng nhiệt thành kính mến sâu đậm hơn, để dâng lên Mẹ niềm tôn kính và lòng sùng kính xứng đáng.”
Tôi hy vọng rằng chuyến “lặn sâu” vào tước hiệu Mẹ Giáo hội này sẽ giúp đức tin của bạn thêm kiên vững, và xin chúc bạn biết phó thác bản thân cho Mẹ, để đời sống ân sủng ngày càng lớn mạnh trong tâm hồn bạn.
Một thông tin bên lề thú vị: Đức Giáo hoàng Phanxicô đã cử hành Thánh lễ Đức Maria là Mẹ Giáo Hội tại Philadelphia trong chuyến tông du đến Hoa Kỳ vào tháng 9 năm 2015.
Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, một vị Giáo hoàng có lòng sùng kính Đức Maria sâu sắc, cũng đã thêm tước hiệu “Nữ Vương các Gia Đình” vào Kinh Cầu này trong triều đại giáo hoàng của ngài.
Không có gì ngạc nhiên khi những khoảnh khắc này được nhấn mạnh rất rõ trong các lời nguyện của Thánh lễ kính Đức Trinh Nữ Maria – Mẹ Giáo hội, đặc biệt là trong Kinh Tiền Tụng.
Tác giả: Đức Hữu chuyển ngữ
Nguồn tin: thejesuitpost.org