
Lòng sùng kính Đức Mẹ đã có một quá trình phát triển lâu dài và đã được nhận thấy vào giữa thế kỷ III, phát triển mạnh mẽ đặc biệt tại các Giáo Hội Đông phương sau Công Đồng Êphêsô (431), và tại Tây phương vào thế kỷ VII, sau đó có một khoảng thời gian tạm ngưng. Hoàn cảnh ở Tây phương không thuận lợi chút nào cho sự tiến triển thần học hay bất kỳ hoạt động nào khác. Đến thế kỷ XI, mọi sự bắt đầu thay đổi, đời sống con người trở nên dễ dàng và thịnh vượng hơn khi các “quốc gia” bắt đầu xuất hiện. Đồng thời, dường như có một sự thay đổi trong tâm lý tôn giáo, những nhu cầu mới bắt đầu xuất hiện và dần dần điều này trở nên rõ ràng trong đời sống đạo đức. Nhiều yếu tố đã tác động và một trong số đó là sự thay đổi thái độ đối với Đức Kitô. Lòng sùng kính dần mang tính cá vị. Trong nhiều thế kỷ, trên các mái vòm cung nguyện và tranh khảm ở cả Giáo Hội Đông phương lẫn Tây phương, Đức Kitô được miêu tả như Christus Pantocrator (Đấng Cai Trị Vũ Trụ). Ngay cả thập giá cũng được miêu tả là Người đang trị vì từ cây gỗ: Regnavit a ligno Deus (Thiên Chúa đã trị vì từ thập giá). Còn có crux gemmata (thập giá nạm ngọc) không có hình Người trên đó, và không có tượng chịu nạn trên bàn thờ cho đến khoảng thế kỷ XI. Còn về Đức Maria, có những bích họa lớn lay động lòng người chiếm vị trí chủ đạo trên bàn thờ và cung thánh, như hình ảnh người phụ nữ bồng con trước ngực, gợi lên hình ảnh Mẹ Hội Thánh, cũng như là Mẹ Đức Kitô.
Mặc dù có những dấu tích về mối tương quan cá nhân và tình cảm với Đức Kitô từ thế kỷ VII, nhưng phải đến thế kỷ XI thì sự nhấn mạnh vào nhân tính Đức Kitô mới bắt đầu xuất hiện. Người ta nói rằng lòng sùng kính nhân tính Đức Kitô là sự đổi mới vĩ đại thời Trung cổ.[1] Dường như điểm khởi đầu của sự đổi mới này là sự chú ý sâu sắc hơn đến các trình thuật Tin Mừng về biến cố Giáng Sinh của Đức Kitô và những trình thuật liên quan đến cuộc khổ nạn. Các bài giảng của Thánh Bênađô là một minh chứng sống động và nổi tiếng về điều này. Thật vậy, có thể nói rằng các tu sĩ Dòng Xitô chính là những người đề xướng và thúc đẩy mạnh mẽ hình thức sùng kính này, và dần dà thấm sâu vào phụng vụ. Từ thế kỷ XIII trở đi, các tu sĩ Phanxicô cùng nhiều dòng tu khác đã tiếp bước các tu sĩ Xitô.
Sở dĩ Đức Maria đã hiện diện tròn đầy nơi các biến cố của mầu nhiệm Nhập Thể, và vì thánh Gioan mô tả Mẹ đứng dưới chân thập giá, nên Mẹ cũng đã trở thành tâm điểm chú ý theo một cách thức mới. Do đó, chúng ta có những bức họa về Đức Maria thân mẫu Chúa Giêsu ở Bêlem, và từ khoảng thế kỷ XIV là những hình ảnh Mẹ bồng ẵm Con mình sau khi Người được hạ xuống từ thập giá (Pietà). Sau này, việc tưởng nhớ còn đi vào trong phụng vụ.
Chính trong bầu khí ấy, một lễ kính các Sự Thương Khó của Đức Mẹ đã được cử hành tại Đức vào năm 1423. Tuy nhiên, lễ này vẫn chỉ mang tính địa phương trong nhiều thế kỷ cho đến năm 1721, khi Đức Giáo hoàng Biển Đức XIII đưa vào lịch phụng vụ lễ “Bảy Sự Thương Khó của Đức Trinh Nữ Maria”. Lễ này được cử hành vào thứ Sáu trước Chúa Nhật Lễ Lá, qua đó biểu thị mối liên hệ của Mẹ với cuộc khổ nạn của Chúa chúng ta. Đến năm 1913, Đức Piô X muốn bảo toàn trọn vẹn các ngày Mùa Chay, nên đã dời lễ này sang ngày 15 tháng 9 (một ngày sau Lễ Suy Tôn Thánh Giá) và vẫn giữ nguyên cho đến nay. Trong công cuộc cải cách phụng vụ sau Công Đồng Vatican II, Thánh Lễ và Kinh Thần Vụ của ngày lễ đã được soạn lại theo mẫu thức mới. Bài thánh ca Stabat Mater thế kỷ XIII (nay được cho là của Thánh Bonaventura) vẫn được giữ lại như một tràng chuỗi sau bài đọc đầu tiên trong Thánh Lễ, nhưng có thể tùy nghi sử dụng. Thực chất, bài ca này không thật sự phù hợp với phụng vụ Lời Chúa bởi vì quá dài, và vì lễ này chỉ cử hành vào ngày thường nên không thể hát trong nhà thờ được[2].
Việc chỉnh sửa các văn bản phụng vụ hoàn toàn phù hợp với giáo huấn trong chương VIII Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội và Tông huấn Marialis Cultus của Đức Phaolô VI. Trong Thánh Lễ, bài đọc I trích trong thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Hípri (Hr 5,7-9), miêu tả Chúa Giêsu Kitô “dâng lời khẩn nguyện nài xin” trong suốt cuộc đời, nhưng đặc biệt tại vườn Giêtsêmani, Người đã “lớn tiếng và rơi lệ”, cũng như hoàn toàn vâng phục Chúa Cha với tình yêu thương. Người đã được Chúa Cha “cứu thoát”, bởi cái chết của Người đã được biến đổi nhờ sự Phục Sinh, để Người trở nên “Đấng thánh thiện và hoàn hảo” trong vai trò tư tế và hiến lễ. Nhờ đó, Người có thể trở thành “nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu” cho tất cả những ai vâng phục Người. Thánh Vịnh tiếp theo (Tv 30,2-6.15-16.20) được sử dụng trong phụng vụ Thứ Sáu Tuần Thánh (dù có câu khác) và vang vọng lời Chúa Giêsu khi hấp hối:
Con ẩn náu bên Ngài,
xin cứu vớt và giải thoát con khỏi tay mọi người đang đuổi bắt.
Trong tay Ngài, Lạy Chúa, con xin phó thác hồn con.
Ngài đã cứu chuộc chúng con, lạy Chúa Trời thành tín. (x. Lc 23,46).
Mối liên hệ giữa Đức Maria với Đấng Cứu Thế đang hấp hối được trình bày trong bài Tin Mừng ngày lễ: “đứng gần Thập giá Chúa Giêsu có thân mẫu Người...” (Ga 19,25-27). Đây là chi tiết đặc biệt chỉ có trong Tin Mừng Gioan. Dù ngày lễ này nhấn mạnh đến sự đồng cảm của Mẹ Maria với Thánh Tử, nhưng có lẽ vẫn còn ẩn chứa mầu nhiệm Thần học gì đó sâu xa hơn. Trong câu “Thưa Bà, đây là con Bà” và “đây là Mẹ con” của Chúa Giêsu, ta có thể nhận ra rằng Đức Maria đang được chọn để làm Mẹ Giáo Hội, một Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô lan rộng qua không gian và thời gian, một Giáo Hội đã và đang chịu đau khổ qua mọi thời, từ những cuộc tấn công của kẻ thù bên ngoài lẫn sự phản bội từ bên trong. Chính Giáo Hội ấy cũng được mời gọi noi gương Mẹ Maria trong việc chịu đau khổ vì Giáo Hội và tìm kiếm sự trợ giúp của Mẹ.[3]
Bài Tin Mừng thay thế là bản văn Luca (Lc 2,33-35) cũng mang thông điệp tương tự. Ngay trong những tuần đầu sau khi chào đời, Chúa Giêsu đã là dấu hiệu bị chống đối, còn Đức Maria, ái nữ của Sion, cũng dự phần vào vận mệnh của dân tộc mình. Mẹ sẽ đứng giữa tâm điểm của sự chống đối, khi “những suy nghĩ thầm kín của nhiều người sẽ bị phơi bày”, và khi Con của Mẹ được kẻ đi theo, người chống đối. Và rồi, một lưỡi “gươm” sẽ đâm thấu tim Mẹ như ngọn giáo đâm thủng trái tim Thánh Tử (Ga 19,37; x. Dcr 12,10).[4]
Lời nguyện Nhập lễ (cũng dùng trong Kinh Thần Vụ) đã kết hợp hai tư tưởng này:
Lạy Chúa, khi Ðức Kitô chịu treo trên thập giá, Chúa đã muốn cho Thánh Mẫu của Người đứng kề bên mà thông phần đau khổ. Xin cho Hội Thánh Chúa biết noi gương Thánh Mẫu mà kết hiệp với Ðức Kitô chịu khổ hình, để mai ngày được phục sinh vinh hiển cùng với Ðức Kitô...
Điệp ca Kinh Benedictus phản ánh sự nhấn mạnh vào cuộc phục sinh, nhờ đó Đức Maria được hưởng vinh quang: “Hãy vui lên, Hỡi Mẹ sầu bi, vì Mẹ được chia sẻ chiến thắng cùng Con Mẹ...”. Đàng khác, công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu được làm nổi bật trong Điệp ca 3 của giờ Kinh Chiều, và chúng ta được nhắc nhở khi noi gương Mẹ Maria, ta cũng được mời gọi chia sẻ đau khổ với Người: “Chúng ta hãy vui mừng khi được thông phần đau khổ với Đức Kitô” (Kinh Sáng, Điệp ca 2). Bài đọc ngắn nói về những đau khổ của Giáo Hội, Thân Thể Chúa Kitô mà ta cùng chia sẻ khi làm việc cho Giáo Hội, như thánh Phaolô đã làm (x. Cl 1,24-25). Nơi đây, Chúa Kitô, Đức Maria, Giáo Hội và chúng ta đều được quy tụ làm một.
Điều có thể gây ngạc nhiên là Đức Maria được cho là đã đạt được triều thiên tử đạo dù không phải chịu nỗi thống khổ của cái chết (Câu Xướng, Kinh Chiều). Điều này dường như bắt nguồn từ một tuyên bố trong bài giảng của thánh Bênađô được trích trong giờ Kinh Sách: “Đừng lấy làm lạ khi nói rằng Đức Maria đã chịu tử đạo trong tâm hồn”. Trước đó, ở phần mở đầu bài giảng, có những lời khá phổ biến: “Lạy Mẹ diễm phúc, lưỡi gươm đã đâm thâu tâm hồn Mẹ. Vì không có lưỡi gươm nào đâm thâu da thịt Thánh Tử mà lại không đâm thâu tâm hồn Mẹ. Sau khi Thánh Tử là Chúa Giêsu trút hơi thở... ngọn giáo tàn nhẫn đã mở cạnh sườn Người... không thể chạm tới linh hồn Người. Thế nhưng, nó đã đâm thâu tâm hồn Mẹ... và (tâm hồn Mẹ) đã bị đâm thâu bởi lưỡi gươm đau buồn. Chúng ta có lý khi nói về Mẹ như hơn cả một vị tử đạo, vì nỗi thống khổ tinh thần Mẹ chịu đã vượt quá mọi đau đớn thể xác.[5]
Một vị tử đạo là nhân chứng cho Đức Kitô cùng Lời của Người, và rõ ràng, thánh Bênađô đã thấy Đức Maria như nhân chứng của Con mình, Ngôi Lời nhập thể, và Mẹ đã cùng chịu khổ với Người trên thập giá. Do đó, Mẹ trở thành nhân chứng cho những đau khổ của Người, và Mẹ là người chia sẻ những đau khổ ấy.
Khi xét tất cả các bản văn phụng vụ của ngày lễ, ta thấy đó là một thông điệp rất cân bằng về ý nghĩa sâu xa Nỗi Thống Khổ của Đức Maria. Các bản văn không còn là sự trình bày về những đau khổ thuần túy chủ quan nơi Mẹ, mà là lời mời gọi cùng với Đức Maria – người đứng dưới chân thập giá và đi trọn vào cuộc khổ nạn ấy hơn bất kỳ ai – đi vào sự hiệp nhất sâu sắc với Đức Kitô chịu khổ nạn. Chúng ta có thể kết luận như thánh Bênađô: “Chính lòng bác ái đã thúc đẩy Người chịu chết, lòng bác ái vô tiền khoáng hậu, và cũng chính lòng bác ái đã thúc đẩy Đức Maria sống tình mẫu tử tuyệt hảo”.[6]
Xem J. A. Jungmann, SJ, Pastoral Liturgy (ET, London, 1962), tr. 56 và toàn bộ phần 7, tr. 48-58.
^ Chú thích của người dịch: Tác giả viết điều này có lẽ là vì yếu tố mục vụ. Vì vào ngày thường, số người tín hữu tham dự Thánh Lễ không được đông đảo nên bài ca này không được sử dụng trong Thánh Lễ Mẹ Sầu Bi.
^ Về “Người Phụ Nữ”, xem Raymond E. Brown, The Gospel according to John, Vol. 2, tr. 926 (The Anchor Bible, Geoffrey Chapman, London, 1966-1982-1984). Ông cho rằng danh hiệu “Người Phụ Nữ” gợi nhớ “Eva” trong Sách Sáng Thế, ám chỉ “Eva Mới”.
^ Xem Kinh Thánh Jerusalem Mới, (London, 1985), chú thích 1 và m về câu 38.
^ Như trong Kinh Sách, III, tr. 265.*
^ Ibid. tr. 263* và phần kết bài giảng tr. 263.*
Tác giả: Đức Hữu chuyển ngữ từ tập sách OUR LADY OF THE LITURGY của J.D.Crichton