Thân thể, Nhiệm thể, Thánh Thể

Thứ bảy - 06/06/2026 04:15  26

Lễ Mình Máu Thánh Chúa


Trong Thánh Kinh, chúng ta tìm thấy nhiều hình ảnh nêu bật các phương diện khác nhau của mầu nhiệm Hội Thánh. Nào là Đoàn chiên Chúa, Dân Thiên Chúa, Gia đình Thiên Chúa, Đền Thờ Thiên Chúa ; nào là Nước Trời, Cây nho, Vườn nho, Hiền thê, nhưng có lẽ đáng chú ý nhất là hình ảnh Thân thể Chúa Kitô (mà thần học sẽ gọi là Thân thể Mầu nhiệm hay Nhiệm Thể). Điều này thấy rõ nơi các thư của thánh Phao-lô (x. Rm 12,5; 1Cr 12,12-13.27…), nhà thần học vĩ đại nhất của Kinh Thánh, đặc biệt trong hai thư viết vào cuối đời của ngài là Ê-phê-xô và Cô-lô-xê, như một tổng hợp suy tư thần học. Trong 2 thư đó có 13 từ “thân thể” và 3 từ “toàn thân” hiểu như Thân thể Mầu nhiệm. Ví dụ Ep 1,23: “Hội Thánh này là Thân thể Đức Kitô, là sự viên mãn của Đấng làm cho mọi sự được viên mãn” hoặc Cl 1,18 “Người cũng là đầu của thân thể, nghĩa là đầu của Hội Thánh” (xt Ep 4,12-13). 

 

Ngoài ra, lương thực cho Nhiệm Thể được gọi là Thánh Thể. Vậy đâu là tương quan giữa 3 ý niệm đó và đâu là lý do của việc thánh Phao-lô thích dùng hình ảnh Nhiệm Thể? 

 

1. Thân thể    

 

Thân thể nói đây là thân thể con người. Thiên Chúa đã dựng nên con người như chóp đỉnh của thế giới hữu hình và như kiệt tác của công trình sáng tạo. 
 

a- Chóp đỉnh, kiệt tác vì con người có một linh hồn với ba khả năng : trí tuệ để hiểu biết, hướng đến sự thật ; tình cảm để yêu mến, hướng đến sự thiện, và tự do để chính mình chấp nhận hay không hai giá trị vừa nói. 

 

Con người có 4 đặc tính cơ bản : 1- Từ sinh ra đến khi chết vẫn chỉ là một, dù có biến đổi nơi xác hay hồn qua thời gian. 2- Luôn nỗ lực vươn tới sự hoàn hảo của bản thân, hoặc về thể xác, trí tuệ, hoặc tâm hồn. 3- Do bản năng quyền lực thúc đẩy, hằng tìm cách tạo ảnh hưởng ra quanh mình, lên nhân quần, lên xã hội. 4- Luôn duy trì ảnh hưởng của nền văn hóa trong đó mình đã sinh ra, của nền giáo dục mà minh đã lãnh nhận.

 

Con người có 7 biến chuyển (hay giai đoạn) trong cuộc sống tự nhiên : 1- Sinh ra và được nhận như con yêu. 2- Tăng trưởng, thêm sức về thể xác và trí tuệ. 3- Cần thức ăn, lương thực để phát triển. 4- Có khi lâm bệnh tật và cần được chữa trị. 5- Đến tuổi trưởng thành thì lập gia đình, sinh sản con cái cho xã hội, cho nhân loài. 6- Đôi lúc tự nguyện sống độc thân để chuyên tâm vào việc phục vụ, nghiên cứu, sáng tác hay điều hành. 7- Kết thúc cuộc sống lúc thân thể tàn tạ hoặc bất đắc kỳ tử.

 

Hoạt động của con người chung quy là tìm lương thực. Lao động tay chân để tìm lương thực cho thể xác ; học hành nghiên cứu để tìm lương thực cho trí tuệ ; luyện tập đức hạnh để tìm lương thực cho tâm hồn. Các loại lương thực này phải dẫn đến chỗ làm phát sinh và tăng trưởng tình yêu, vì chỉ có sống cho tình yêu thì con người mới thựa sự là người. Mà tình yêu chỉ đạt đến bản chất của nó trong việc bỏ mình, quên thân, hiến mạng vì những giá trị cao đẹp.

 

b- Chóp đỉnh, kiệt tác vì con người có một thân thể hoàn hảo hơn bất cứ sinh vật nào khác, làm nên bởi nhiều chi thể, cơ quan và cuối cùng là tế bào, đơn vị cấu trúc và chức năng cơ bản nhất của thân thể. Có khoảng 30.000 tỷ tế bào khác nhau trong nó (tế bào thần kinh, tế bào máu, tế bào cơ, tế bào biểu mô...).

 

Cơ quan trọng yếu nhất trong thân thể là não bộ, trung tâm chỉ huy tối cao của hệ thần kinh (gồm khoảng 100 tỷ tế bào gọi là nơ-ron/neuron), điều khiển mọi sinh hoạt : nhận thức, cảm xúc và hành động. Ngoài não bộ, các nơ-ron còn tập trung ở tủy sống (trong cột sống), nhưng có dây nối (sợi nhánh) đến mọi tế bào. Vai trò của chúng là (1) mang mọi tín hiệu từ các cơ quan thụ cảm (như da, mắt, tai, mũi, lưỡi) hoặc các cơ quan nội tạng để đưa về bộchỉ huy trung ương ; (2) nhận và đưa thông điệp (mệnh lệnh) từ hệ thần kinh trung ương đến các cơ quan để có phản ứng thích hợp Điểm đặc biệt là các tế bào thần kinh không có lúc nhân đôi, tức chẳng bao giờ sinh sản.

 

Trong thân thể con người, để duy trì, tăng trưởng, bảo vệ sự sống, có hệ tuần hoàn. Hệ tuần hoàn (hệ mạch máu) vận chuyển oxy, chất dinh dưỡng, nội tiết tố vào các tế bào rồi đem chất thải ra. Máu được làm nên bởi hai thành phần chính là hồng cầu (hồng huyết cầu) và bạch cầu (bạch huyết cầu). Hồng cầu mang 3 đặc tính : không có nhân (bộ phận điều khiển hoạt động độc lập của tế bào), mức dinh dưỡng rất thấp và chẳng hề phân đôi, tức sinh sản.

 

Vể hoạt động ăn uống, một khi lương thực (cơm bánh, thịt cá, nước rượu…) đã đưa vào dạ dày để được tiêu hóa (rồi chuyển đi nuôi sống mọi tế bào) thì chỉ còn có thể gọi chung là “thịt và máu tôi”, và đó là một sự biến đổi bản thể. Lương thực liên kết tế bào với đầu và với nhau, tế bào nào không ăn tức khắc sẽ chết.
            

2- Nhiệm Thể

 

Sáng tạo con người, Thiên Chúa ban cho nó tự do để nó xứng làm con của Người, để nó trước hết thong dong nhận Người như Sự Thật và Sự Thiện tối đại. Nhưng vì bị thúc đẩy bởi 3 bản năng, bị xúi giục bởi quỷ dữ, khả năng bấp bênh đó đã sa ngã liền (câu chuyện Địa đàng). Với sự toàn tri của mình, Thiên Chúa biết trước điều ấy. Thành thử Người đã thản nhiên thực hiện bước thứ hai mà chúng ta gọi là “tái tạo” hay “cứu chuộc”. Và như Cựu Ước chứa nhiều tiền ảnh (hình ảnh báo trước) của Tân Ước, thi cuộc Sáng tạo cũng chứa nhiều tiền ảnh của cuộc Tái tạo.

 

Cuộc tái tạo này làm nên “Con người mới”, không theo nghĩa tu đức học nhưng hữu thể học : “Đức Ki-tô đã liên kết dân Do-thái và dân ngoại làm một… Người đã tác tạo đôi bên thành một người mới duy nhất nơi chính bản thân Người” (Ep 2,14.16), làm nên “Con người trưởng thành” : “Dân thánhxây dựng thân thể Đức Ki-tô, cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Ki-tô” (Ep 4,12-13; x. Ep 1,23; x. Cl 1,18). Giáo lý Hội thánh Công giáo số 795 còn nêu rõ đó là “Con mgười Toàn thể” (Totus Homo) qua nhiều câu nói của các thánh nhân thần học gia : “Nếu Đức Ki-tô là Đầu và chúng ta là chi thể, thì con người toàn thể (totus homo) chính là Người và chúng ta” (Au-gút-ti-nô), “Đấng Cứu Chuộc chúng ta đã tỏ cho thấy Người cùng với Hội Thánh mà Người đảm nhận, là như một người duy nhất” (Grê-gô-ri-ô Cả). “Đầu và các chi thể như là một người duy nhất huyền nhiệm” (Tô-ma A-qui-nô).

 

“Con người mới” này, Thân thể Đức Ki-tô này đã được loan báo và chuẩn bị xa trong Cựu Ước, được chuẩn bị gần và bước đầu thực hiện khi Đức Giê-su rao giảng Nước Trời, quy tụ môn đệ, được hình thành trọn vẹn (sinh ra) khi Đức Ki-tô phục sinh trở thành Đầu, với Thánh Thần là linh hồn, với các thiên thần là tư tưởng và tình cảm, với mọi tín hữu là chi thể, hay đúng hơn là tế bào.    

 

Con người mới ấy, Thân thể mầu nhiệm ấy cũng có 4 đặc tính cơ bản. 1- Dù làm thành bởi hàng triệu, hàng tỷ thành viên, Hội Thánh vẫn là một trong niềm tin vào giáo thuyết, trong việc vâng giữ luật luân lý, trong việc cử hành 7 bí tích, trong việc tuân theo một kỷ luật, trong việc thống nhất sự điều hành. Thần học gọi là tính “duy nhất”. 2- Dù có vị sáng lập là Đấng Thánh và sở hữu các phương tiện thánh hóa hữu hiệu, nhưng vì bao gồm các thành viên nhân loại là những kẻ tội lỗi, Hội Thánh phải ngày càng vươn tới đức bác ái trọn hảo, đạt đến mức thập toàn của Chúa Ki-tô, hoàn thiện như Cha trên trời. Thần học gọi là tính “thánh thiện”. 3- Qua ý thức và sứ mạng truyền giáo, Hội Thánh làm cho Đạo Chúa ngày càng mở ra khắp nơi, thấu đến mọi người, đem Tin Mừng thấm nhập mọi tổ chức, mọi định chế, mọi xã hội. Thần học gọi là tính “công giáo”. 4- Qua bao thế kỷ, trải bao thăng trầm, Hội Thánh vẫn nắm vững truyền thống nhận từ các Tông đồ để giữ vững bản chất và sứ mệnh. Có sự liên tục đặt tay và kế thừa nhiệm vụ trong hàng lãnh đạo, khởi từ Nhóm Mười Hai. Thần học gọi là tính “tông truyền.”

 

Con người mới ấy, Thân thể mầu nhiệm ấy, cụ thể là từng tín hữu tế bào, cũng có 7 biến chuyển (hay giai đoạn) trong cuộc sống siêu nhiên : 1- Sinh ra và được nhận làm con Chúa nhờ bí tích Rửa tội. 2- Tăng trưởng trong đức tin nhờ bí tích Thêm sức (hay kiên tín). 3- Có lương thực thần linh để phát triển là bí tích Thánh Thể. 4- Lâm bệnh tật tâm hồn thì được bí tích Cáo giải chữa trị. 5- Được đóng ấn trên đời sống vợ chồng, thiên chức cha mẹ nhờ bí tích Hôi phối. 6- Được thánh hiến để làm tư tế thừa tác, lãnh đạo cộng đoàn, ngôn sứ chuyên nghiệp, thì có bí tích Truyền chức. 7- Kết thúc cuộc đời trong ân nghĩa với Chúa nhờ bí tích Xức dầu bệnh nhân. 

 

Trong Thân thể mầu nhiệm ấy, các giáo sĩ (giám mục, linh mục) có một vai trò đặc biệt. Với cuộc sống độc thân, các vị là trung gian giữa Thiên Chúa với loài người, qua việc làm Tư tế-Thánh hóa (dâng mọi lời cầu nguyện và lễ vật của dân Chúa lên Đấng Tối Cao), Ngôn sứ-Giảng dạy (truyền lại cho giáo hữu những gì Thiên Chúa mạc khải, dạy dỗ) và Vương đế-Cai quản (thay mặt Đức Ki-tô Đầu điều hành toàn bộ Nhiệm thể). (x. GLHTCG 888-896). Các vị chẳng tương ứng với mạng tế bào thần kinh trong thân thể con người sao ?

 

Trong Thân thể mầu nhiệm ấy, các tu sĩ nam nữ đóng vai trò tác nhân phục vụ sự sống của Chúa Ki-tô. Nhờ việc tuân giữ 3 lời khấn Tin Mừng, họ hiến thân (thành ra nên gọi họ là hiến sĩ, vì họ đâu chỉ sửa mình theo nghĩa chữ “tu” Hán-Việt), hiến thân vào việc lưu chuyển những gì cần thiết cho sự sống đó (Lời Chúa và Mình Chúa) đến mọi giáo hữu, như cộng tác viên của các mục tử, cho dù họ có các hoạt động đủ dạng, tùy theo đặc sủng mỗi dòng tu, tu hội, tu đoàn. (x. GLHTCG 925-930). Họ chẳng tương ứng với các hồng huyết cầu trong thân thể con người sao ?

 

Dĩ nhiên còn rất nhiều điểm tương ứng giữa thân thể và Nhiệm Thể.

 

3- Thánh Thể

 

Như thân thể con người cần lương thực, Thân Thể Chúa Ki-tô cũng có lương thực mà chính Người gọi là “thịt và máu tôi” (Ga 6,54), “mình và máu Thầy” (Mt 26,26.28; Mc 14,22.24; Lc 22,19-20; 1Cr 11,24-25). Lương thực này, Đức Giê-su đã tiên báo sau phép lạ hóa bánh ra nhiều bên kia biển hồ Ga-li-lê (Ga 6). Nhưng khi thấy người Do-thái hiểu lầm theo nghĩa đen: “Làm sao ông này có thể cho chúng ta ăn thịt ông ta được ?” Đức Giê-su đã đáp: “Thần khi mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì” (Ga 6,52.63). Câu này đưa tâm trí người Do-thái và chúng ta đến cái lúc Thánh Thần tác sinh để biến Đức Giê-su hiến thân chịu chết thành Chúa Ki-tô chiến thắng sống lại và thành Đầu của Nhiệm thể vốn cũng sinh ra đồng thời.

 

Việc Người trở thành Đầu của Nhiệm thể là một tiến trình (thần học gọi là cuộc Vượt qua) khởi sự từ lúc Người lập phép Thánh Thể tại nhà Tiệc ly (như bí tích/dấu chỉ của việc hiến mạng vì tình yêu trên thập giá hôm sau) cho đến lúc Người sống lại ra khỏi mồ. (x. Thông điệp “Hội Thánh sống nhờ Thánh Thể” Ecclesia de Eucharistia vivit, EEV, của Đức Gioan-Phaolô 2, số 14).


Như đã nói trên, một khi lương thực (cơm bánh, thịt cá, nước rượu…) đã đưa vào dạ dày để được tiêu hóa (rồi chuyển đi nuôi sống mọi tế bào) thì chỉ còn có thể gọi là “thịt và máu tôi”, một sự biến đổi bản thể. Trong bữa Tiệc ly, Chúa cũng có lý để gọi bánh và rượu là Mình và Máu Người, vì chính lúc ấy Người bước vào cuộc Thương khó-Sống lại để khai sinh Thân thể Mầu nhiệm là Hội Thánh có Người như Đầu điều khiển. Chúa đồng thời cũng lập phép Truyền chức để hy tế tình yêu của Người được hiện tại hóa muôn niên (EEV 11.14) và Thánh Thể tác sinh (nhờ sức mạnh do sự sống lại) của Người được làm ra mãi mãi. Nên từ đó, trên bàn thờ mỗi ngày, linh mục cầu xin Thánh Thần thánh hóa lễ vật chính là Đầu Nhiệm thể biểu lộ ý muốn ăn uống, và linh mục đọc lời truyền phép trên bánh lẫn rượu chính là Đầu Nhiệm thể đang dùng tay để đưa thức ăn vào miệng mình, vào thân thể mình, cho thành thịt máu mình, thực hiện một sự biến đổi bản thể (transubstantiation, EEV 15). Giáo dân sau đó rước lấy chính là lương thực thần linh đi vào mỗi tế bào cỉa Nhiệm Thể để họ được liên kết với Đầu và với nhau, làm cho Hội Thánh lớn mạnh (EEV 16) 

 

Hoạt động của tín hữu chung quy là tìm lương thực cho linh hồn (Lời Chúa, Mình Chúa hay Thánh Kinh, Thánh Thể) để nhờ đó mà sống đức tin. Và như nói ở trên, 3 loại lương thực cho xác, cho trí, cho hồn, muốn không ra vô ích, phải làm cho tình yêu phát sinh, tăng trưởng và đạt đến bản chất của nó là khiến bỏ mình, quên thân, hiến mạng vì những giá trị cao đẹp. Thánh Thể cũng vậy, trước hết đó là bí tích (dấu chỉ) của một tình yêu tuyệt độ, hy lễ cao vời, đi đến tận cái chết trên Thánh giá, và khi trở thành lương thực cho mỗi tế bào Nhiệm Thể thì cũng kêu mời họ “thí mạng vì anh em như Đức Ki-tô đã thí mạng vì họ” (x. 1Ga 3,16).

 

Kết luận

 

Thành ra muốn hiểu các ý nghĩa của Thánh Thể (sự hiện diện của Chúa Ki-tô giữa giân trần, thức ăn nuôi hồn tín hữu, lương thực làm tăng trưởng Hội Thánh, mầm phục sinh cho thể xác con người [Ga 6,54], lời mời gọi lẫn lực tác động cho tình yêu, nguồn ơn Thánh Thần [EEV 17]….), cần đặt mầu nhiệm Thánh Thể vào bên trong và trong tương quan với mầu nhiệm Nhiệm Thể, mầu nhiệm Hội Thánh. Nên dầu thánh thi “Nào ca hát để họp mừng mầu nhiệm” (Pange lingua) của thánh Tô-ma A-qui-nô có bảo: “Mắt chẳng thấy nhưng lòng tin vững mạnh… Niềm tin thế cho giác quan cảm nghiệm” thì đức tin này vẫn phần nào được soi sáng. Ngoài ra, kiến thức về thân thể con người sẽ giúp rất nhiều trong việc hiểu biết Thân thể Chúa Ki-tô, Thân thể Con người mới. Trước đây, sinh học (về con người) liên hệ với luân lý (vấn đề phá thai, mang thai mướn, thụ thai ống nghiệm…). Nay tân thuyết Tô-ma khám phá ra rằng nó cũng liên hệ với tín lý nữa. Nếu không, việc Thánh Thần linh hứng cho đại Tông đồ Phao-lô trình bày Hội Thánh như thân thể con người để làm gì vậy?

Tác giả: Lm. Phêrô Phan Văn Lợi

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây