Lễ nhớ thánh Timôthê và thánh Titô, giám mục
(2Tm 1,1-8; Lc 10,1-9)
Ngay từ những trang đầu của Kinh Thánh, Thiên Chúa đã khẳng định một chân lý nền tảng: “Con người ở một mình thì không tốt” (St 2,18). Mặc dù câu nói này thường được nhắc đến trong bối cảnh đời sống hôn nhân, nhưng ý nghĩa của nó còn vượt xa hơn thế, bao trùm lên hầu hết mọi khía cạnh của đời sống tự nhiên cũng như siêu nhiên của con người. Thật vậy, con người không được dựng nên như những ốc đảo khép kín, cô độc, mà là những hữu thể của tương quan: với Thiên Chúa, với tha nhân và với vạn vật. Càng sống tốt đẹp và hài hòa các mối tương quan ấy, nhân tính nơi con người càng được triển nở và trở nên phong phú. Trái lại, khi giam mình trong cái tôi ích kỷ, con người tự làm nghèo nàn và méo mó chính căn tính làm người của mình. Bởi vậy, không quá lời khi khẳng định rằng: “Tôi chỉ thực sự là người nếu tôi sống với anh em tôi.” Tính cộng đoàn ấy cũng được thể hiện rõ nét trong sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh. Truyền giáo, tự bản chất, không bao giờ là “sàn diễn của những người hùng cô độc”, mà là sứ mạng chung của một cộng đoàn được sai đi. Hôm nay, Phụng vụ Giáo hội mừng kính hai thánh giám mục Timôthê và Titô – những cộng sự đắc lực của Thánh Phaolô. Cuộc đời các ngài là minh chứng sống động rằng: loan báo Tin Mừng luôn là hành trình của sự hiệp thông, nơi mỗi người dùng đặc sủng riêng để góp phần vào một sứ mạng duy nhất.
Trước hết, cộng tác là họa lại cách hành động của Thiên Chúa. Thiên Chúa là “Chủ mùa gặt”, Ngài toàn năng và có thể tự làm mọi sự cách trọn hảo. Thế nhưng, Ngài vẫn muốn những con người yếu đuối được vinh dự cộng tác vào “mùa gặt” của Ngài. Vậy nếu ngay cả Thiên Chúa còn không loại trừ sự bất toàn của con người, thì chúng ta là ai mà dám chê bai hay gạt bỏ người khác vì cho rằng họ kém cỏi? Nhiều khi chúng ta quá tự tin vào chính mình đến độ rơi vào cơn cám dỗ “thích ôm đồm”: tự làm thì yên tâm, để người khác làm thì không tin tưởng, không vừa ý. Ngay cả khi cách làm ấy có mang lại hiệu quả tức thời theo tiêu chuẩn thế gian đi nữa, thì đó cũng không phải là điều Chúa muốn. Thánh Vịnh nhắc nhở ta: “Vó ngựa phi Chúa không ưa chuộng, chẳng thích gì chân kẻ chạy nhanh, nhưng ưa chuộng những ai kính sợ Chúa và trông cậy ở tình thương của Ngài.” Một người chỉ tin vào tài năng riêng mình thì khó lòng được gọi là người “kính sợ Chúa, trông cậy ở tình thương của Ngài” cách thực sự. Hơn nữa, chính Chúa Giêsu khi sai các môn đệ đi rao giảng đã không sai từng người riêng lẻ để đến được nhiều nơi, mà Người sai các ông “từng hai người một”. Như thế, tính cộng đoàn nằm trong đường lối thánh ý của Thiên Chúa. Ý thức mình chỉ là người được sai đi, cũng có nghĩa là phải nói và làm theo ý của Đấng đã sai mình, chứ không phải theo ý riêng. Nếu lãng quên nguyên tắc nền tảng này, người rao giảng rất dễ rơi vào cám dỗ biến việc truyền giáo thành nơi thể hiện cái tôi, truyền bá những tư tưởng cá nhân hoặc tìm kiếm hư vinh cho bản thân. Khi đó, thay vì dẫn người khác đến gần hơn với ơn cứu độ, họ lại vô tình đẩy người khác ra xa Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã cảnh báo về nguy cơ ấy khi Người nói: “Ta là cửa. Ai không qua cửa mà vào thì là kẻ trộm… Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy” (x. Ga 10,1.7.10).
Thứ đến, sự cộng tác là phương thế Chúa ban để nâng đỡ sự giới hạn của con người. Cánh đồng truyền giáo thì mênh mông, còn sức lực con người lại mong manh và hữu hạn. Nếu phải một mình cáng đáng mọi sự, sớm muộn gì người rao giảng cũng sẽ rơi vào tình trạng mệt mỏi, kiệt quệ, thậm chí ngã quỵ giữa đường. Không ít người đã bắt đầu với nhiệt huyết lớn lao, nhưng vì thiếu sự cộng tác và nâng đỡ của anh em, nên dần bị cuốn vào guồng quay công việc, đến mức lãng quên đời sống cầu nguyện và tương quan cá vị với Thiên Chúa. Khi ấy, sứ vụ không những không sinh hoa trái, mà chính người thi hành sứ vụ cũng đánh mất niềm vui nội tâm và sự bình an – điều vốn là dấu chỉ của việc đang đi đúng đường lối của Chúa. Ngoài ra, sự hiện diện của người khác còn là một hàng rào bảo vệ rất cần thiết trong hành trình sứ vụ. Thật vậy, có những cám dỗ, những lựa chọn sai trái mà nếu có anh em bên cạnh, chúng ta sẽ không làm; nhưng khi chỉ có một mình, con người lại dễ mềm yếu trước sức hút tinh vi của sự dữ. Cộng tác, vì thế, không chỉ giúp chia sẻ công việc, mà còn gìn giữ lẫn nhau, cùng nhau điều chỉnh hướng đi, để trung thành hơn với sứ mạng được trao phó. Chính trong sự hiện diện của người khác, chúng ta được nhắc nhớ rằng mình không thuộc về chính mình, và sứ vụ này không phải là “sân khấu cá nhân”, nhưng là công trình của Thiên Chúa. Mặt khác, hành trình loan báo Tin Mừng vốn không trải thảm hoa hồng, nhưng đầy rẫy thử thách, chống đối và cả hiểm nguy, đúng như hình ảnh Đức Giêsu đã nói: “như chiên con đi vào giữa bầy sói”. Trong những lúc bị từ chối, hiểu lầm hay thất bại, sự nâng đỡ của anh em bên cạnh trở thành nguồn an ủi lớn lao. Một lời động viên, một sự hiện diện thinh lặng, hay chỉ đơn giản là việc “ở đó với nhau” cũng đủ giúp người đang chùn bước có thêm sức mạnh để đứng lên và bước tiếp. Ngay cả thánh Phaolô, vị Tông đồ kiên cường và mạnh mẽ, khi ở trong cảnh tù đày, cũng không che giấu nỗi cô đơn của mình, nhưng đã tha thiết mời gọi người môn đệ thân tín: “Con hãy cố gắng đến với cha cho mau” (2Tm 4,9).
Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận một thực tế là không phải lúc nào nhiều người làm cũng hiệu quả hơn là một! Đâu thiếu những lần chúng ta thấy có thêm người khác “chỉ tổ vướng tay vướng chân”? Vậy phải chăng khi đó mời gọi người khác cùng cộng tác không còn cần thiết nữa? Không phải! Sự cộng tác lúc đó không nhắm đến hiệu quả của công việc nữa, nhưng mang một ý nghĩa cao cả hơn, bởi đó là hành vi của đức ái. Việc Chúa cho ta cộng tác với Ngài không phải vì ta xứng đáng, mà vì Ngài yêu thương và tôn trọng ta. Đó không chỉ là niềm vinh dự, nhưng còn mang đến niềm vui, sự thỏa thuê khi được chung chia thành quả của mùa gặt, bởi Đức Giêsu đã khẳng định “làm thợ thì đáng được trả công”. Rõ ràng, giữa một bên là ơn cứu độ như một món quà hoàn toàn xa lạ “từ trời rơi xuống” và bên kia là ơn cứu độ được cảm nghiệm như hoa trái của những nỗ lực cộng tác, thì cách thế thứ hai chắc chắn sẽ ý nghĩa và mang lại niềm vui sâu xa và trọn vẹn hơn, bởi chính Thánh Vịnh cũng đã ca ngợi niềm vui khi “Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng.” Chính việc được góp phần vào công trình của Thiên Chúa giúp con người cảm nghiệm rõ hơn giá trị của bản thân và niềm vui của ơn cứu độ mà mình lãnh nhận. Vậy nếu Thiên Chúa đã kiên nhẫn trao cơ hội, hướng dẫn, để chúng ta cảm thấy niềm vui sâu xa của người thấy được mình “có giá trị”, thì đến lượt mình, chẳng phải chúng ta cũng phải làm như vậy cho những người khác sao? Có thể việc hướng dẫn người khác sẽ tốn giờ và vất vả hơn tự làm, nhưng hoa trái thu được khi làm như thế sẽ đẹp lòng Thiên Chúa hơn rất nhiều. Trước mặt Chúa, điều quan trọng không phải là ta làm được bao nhiêu việc, mà là qua những việc ấy, ta dẫn đưa được bao nhiêu người cùng tiến về Nước Trời. Bởi lẽ, “những ai làm cho người ta nên công chính sẽ chiếu sáng muôn đời như những vì sao” (Đn 12,3). Những lúc đối mặt với cơn cám dỗ không muốn hướng dẫn người khác, chúng ta hãy nhớ lại lời Chúa Giêsu đã dạy: “Anh em đã được cho không thì cũng phải cho không như vậy”.
Ước mong sao Lời Chúa hôm nay soi rọi vào cách chúng ta đang sống sứ vụ. Xin cho mỗi người biết khiêm tốn nhận ra giới hạn của bản thân, từ bỏ não trạng độc đoán để trân trọng sự cộng tác của anh em như một ân huệ. Xin cho chúng ta biết lắng nghe nhiều hơn áp đặt, để cùng nhau phân định ý Chúa. Và trên hết, xin cho mọi hoạt động của chúng ta luôn quy hướng về Đức Kitô qua đời sống cầu nguyện và tình huynh đệ. Vì chỉ khi cùng nhau tiến bước, chúng ta mới có thể dìu dắt nhiều tâm hồn tìm về bến bờ Nước Trời.