
Giữa đại ngàn Tây Nguyên hùng vĩ và khắc nghiệt của thế kỷ XIX, nơi rừng thiêng nước độc và những hủ tục từng bao trùm lên những buôn làng cô lập, lịch sử Giáo hội đã ghi lại những trang hồi ký đẫm mồ hôi, nước mắt và ơn thánh. Nổi bật giữa những nhân chứng đức tin ấy là hình ảnh đầy cảm phục của Thầy Sáu Do – một vị phó tế sẵn sàng từ bỏ mọi vinh hoa, học thức và sự an toàn để làm người mở đường tiên phong đem Tin Mừng đến với những mảnh đời cùng cực. Đồng hành và dẫn dắt ngài qua những năm tháng khai phá gian khổ ấy là các bậc chủ chăn và đàn anh khả kính, từ Đức Giám mục Étienne Cuenot (Đức Cha Thể), Cha Pierre Dourisboure (Cha Hòa, tác giả cuốn Dân Làng Hồ), Cha Combes cho đến biết bao vị thừa sai nhiệt thành khác. Đó là một chặng đường tiếp nối bền bỉ của những tâm hồn đầy nhiệt huyết, nơi "vị này ngã xuống, vị kia đứng lên" để kế thừa và kiên trì gieo vãi hạt giống Tin Mừng. Cuộc đời và nhân đức của Thầy Sáu Do không chỉ là một thiên anh hùng ca về sự dấn thân, mà còn hiện lên như một lời mời gọi thiết tha, vang dội đến mọi miền giáo phận trên mảnh đất Việt Nam thân yêu cũng như trên toàn thế giới, đánh thức ngọn lửa đức tin sống động trong mỗi người chúng ta hôm nay. Để thấu hiểu trọn vẹn tinh thần tông đồ cao cả ấy, loạt chủ đề dưới đây sẽ đưa bạn bước vào từng khía cạnh sống động và chân thực nhất về một trong những nhân chứng vĩ đại của đức tin.
***
CHỦ ĐỀ 1: Nghệ thuật "Nhập thể" và Hòa mình – Khi thầy phó tế tự nguyện làm người ở đợ
Ngược dòng thời gian trở về những trang ghi chép trong tác phẩm Dân Làng Hồ của Cha Pierre Dourisboure (Cha Hòa), khi đại ngàn Kon Tum còn hoang vu, hiểm trở và những buôn làng người Bahnar biệt lập với thế giới bên ngoài, cánh đồng truyền giáo đòi hỏi những bước chân dấn thân vượt qua mọi giới hạn thông thường. Để mang ánh sáng đức tin đến vùng cao, sứ mạng ấy không phát xuất từ ý riêng, mà bắt nguồn từ mệnh lệnh trực tiếp và sự trao phó đầy tin tưởng của Đức Giám mục Étienne Cuenot (Đức Cha Thể). Dưới sự hướng dẫn sát sao của ngài cùng các bậc đàn anh như Cha Dourisboure và Cha Combes, Thầy Sáu Do (Phanxicô Xavie Nguyễn Do) đã nhận lấy trọng trách tiên phong dò đường, mở lối để Tin Mừng bén rễ nơi miền thượng.
Vâng lời Đức Cha sai đi trong âm thầm và đầy thử thách, Thầy Sáu Do hiểu rằng để bước qua ranh giới nhạy cảm từ miền xuôi lên miền thượng mà không bị người bản địa nghi kỵ là giặc hay kẻ thù, ngài cần phải thực hiện một cuộc lột xác triệt để. Từ bỏ hoàn toàn tấm áo y phục chỉnh tề và vị thế của một trí thức từng thụ huấn nơi chủng viện Penang sang trọng, ngài tự nguyện cởi bỏ tất cả để khoác lên mình bộ quần áo rách rưới, nhếch nhác của những kẻ lao động nghèo hèn.
Từ sự từ bỏ triệt để ấy, ngài xin đi theo chân một đoàn lái buôn người Kinh, chấp nhận đặt mình ở bậc thấp kém nhất trong đoàn. Giữa chốn rừng thiêng nước độc, vị phó tế không màng danh dự hay sĩ diện cá nhân, sẵn sàng chu toàn sự vâng phục bề trên qua những công việc nặng nhọc và tủi nhục nhất: lom khom nhóm lửa nấu cơm, vai gùi từng gùi hàng oằn nặng qua những con đèo dốc thẳm và suối sâu, nhẫn nhục chịu đựng cả những lời mắng mỏ hay sự khinh miệt của người đời để có cơ hội bước qua ranh giới miền xuôi lên miền thượng. Đó chính là hiện thực sống động của tinh thần nhập thể, khi người rao giảng Tin Mừng tự nguyện hạ mình xuống ngang hàng với những mảnh đời cùng cực.
Chính nhờ sự dấn thân triệt để từ vị trí thấp nhất ấy, Thầy Sáu Do mới có thể vượt qua mọi rào cản sinh tử để học lấy tiếng nói, thấu hiểu tâm lý và hòa mình vào nhịp sống của đồng bào Bahnar. Đêm về bên bếp lửa bập bùng của nhà sàn, khi lắng nghe tiếng chiêng ngân và “hơi thở”của núi rừng, ngài đã thực sự mở ra cánh cửa tâm hồn cho đoàn chiên bản địa. Bài học mục vụ để lại từ chặng đường khai phá ấy vô cùng sâu sắc: chu toàn sứ mạng do Đức Cha trao phó không chỉ là đem lời rao giảng đến, mà trước hết là phải học ngôn ngữ, văn hóa và đồng hóa mình vào đời sống của họ từ vị trí khiêm hạ nhất, bằng chính tấm chân tình của một người mục tử đồng cam cộng khổ để làm gương sáng cho đời sống tông đồ.
***
( còn tiếp…)
Tác giả: Jos. Vinc. Ngọc Biển