Tiệc cưới trong Kinh Thánh

Chủ nhật - 11/10/2026 17:04  70
NHỮNG SUY TƯ THẦN HỌC VỀ TIỆC CƯỚI CANA

Thánh Kinh là sách ghi chép mặc khải của Thiên Chúa dưới sự linh hứng của Chúa Thánh Thần. Song Thánh Kinh cũng là cuốn sách được viết dưới ngòi bút của các tác giả phàm nhân, thông qua ngôn ngữ gắn với những hoạt động trong đời sống của con người[1]. Thành ra, mặc khải của Thiên Chúa thực sự thiêng liêng, cao sâu, nhưng lại được diễn tả cách sống động, gần gũi trong những câu chuyện đời thường của con người. Đồng thời, mặc khải bí nhiệm ấy buộc phải chấp nhận bị giới hạn trong ngôn ngữ của loài người, cũng như gắn với văn hóa và truyền thống của một dân tộc. Đó là dân Do Thái, Dân Riêng được Thiên Chúa tuyển chọn. Trong đó, tiệc cưới, nơi diễn tả tình yêu hôn nhân, là một trong những thực tại quen thuộc, gần gũi với đời sống con người luôn được nói tới trong Kinh Thánh. Thực tại này mang đậm chất Do Thái và cũng là một chủ đề xuyên suốt và giàu tính biểu tượng trong Kinh Thánh.

  1. Một chủ đề xuyên suốt

Con người là một hữu thể của tình yêu và trao ban. Trong đó, tình yêu hôn nhân, khi một người nam và người nữ nên “một xương một thịt” (x. St 1,27), hẳn nhiên là tình yêu trao hiến trọn vẹn nhất, đẹp nhất mà Tạo Hóa phú bẩm nơi con người. Hôn nhân không bao giờ chỉ là một chuyện riêng tư, nhưng nó mang tính cộng đồng và xã hội. Hôn nhân quyết định hình thái tổ chức nền tảng của xã hội[2]. Đặc biệt với văn hóa Do Thái, để diễn tả tình yêu phu phụ, đám cưới, hay tiệc cưới, hay lễ thành hôn được tổ chức để diễn tả tròn đầy nhất niềm vui và niềm hạnh phúc của đôi tân hôn trước sự chứng kiến, công nhận của cộng đồng. Đây chính là một trong những chủ đề mang đậm chất Do Thái và xuyên suốt Kinh Thánh.

1.1. Tiệc cưới mang tính Do Thái

Hôn nhân là một sự cam kết tình yêu giữa một người nam và một người nữ, sau một thời gian dài tìm hiểu, yêu thương và ưng thuận trong tự do. Đám cưới hay tiệc cưới chính là sự kiện nhằm công khai giao ước hôn nhân, thể hiện tình yêu của đôi bạn trước sự chứng kiến, công nhận và chung vui của mọi người. Như chúng ta biết, hôn nhân có ý nghĩa và sự ràng buộc trên mặt pháp luật hoặc tôn giáo. Nhưng tiệc cưới chung quy là một tập tục truyền thống, nhằm công khai hóa mối quan hệ hôn nhân giữa một người nam và một người nữ trong một giao ước hôn nhân[3] .

Tiệc cưới, hay đám cưới là một thực tại, một khúc quanh trong cuộc đời một con người[4]. Trong bất  kỳ thời đại nào, con người luôn thể hiện tình yêu hôn nhân bằng việc kết ước với nhau qua một tiệc cưới, trước sự chứng kiến của mọi người. Tùy thuộc vào truyền thống, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như phong tục, tập quán của từng quốc gia, sắc tộc, đám cưới hay cưới là một thực tại rất phong phú, giàu màu sắc, được tổ chức với những nét đặc trưng khác nhau, thậm chí có sự biến thiên trong dòng lịch sử nhân loại. 

Đặc biệt, với người Do Thái, hôn nhân mang tính chất chính thức và ràng buộc hơn nhiều so với “lễ đính hôn” của chúng ta. Đối với người Do Thái, hôn nhân là một giao ước. Giao ước có gốc tiếng Hip-ri là berít (בְּרִית) nghĩa là hiệp định kí kết bằng cả hai bên phải đi vào giữa hai phần con vật đã được sát tế và xẻ đôi[5] . Cách chung, một giao ước chỉ định một quy ước được kí kết giữa hai người, nhiều người hoặc nhiều nhóm người. Một giao ước bao gồm việc nhận biết lẫn nhau của người này với người kia hoặc nhóm này với nhóm kia. Nó thể hiện một lòng nhân từ tương hỗ, sẵn lòng của người này đối với người kia, một sự nâng đỡ lẫn nhau. Giao ước cam kết chính con người với nhau[6] . 

Trong cộng đồng Do Thái, lễ đính hôn được coi là ràng buộc đến mức, nếu hôn nhân không diễn ra do chú rể bỏ trốn hoặc vi phạm giao ước, cô dâu sẽ không thể kết hôn với người đàn ông khác, cho đến khi được giải thoát bằng một thủ tục pháp lý và một tờ đơn ly hôn. Khoảng thời gian kéo dài giữa lễ đính hôn và lễ cưới được coi là một khoảng thời gian để chú rể có thể thực hiện nghi lễ đã quy định hoặc trả giá - một hoặc hai năm, hoặc, như trường hợp của Giacóp, có thể là bảy năm. Về mặt pháp lý, các bên đã đính hôn là một cặp vợ chồng, và việc không chung thủy bị coi là “ngoại tình” (Đnl 22,23; Mt 1,19) [7] .

Tóm lại, dù trong bất cứ nền văn hóa, phong tục nào, thì tiệc cưới luôn một thực tại của con người. Đó là một dịp để cô dâu chú rể thể hiện niềm vui trọn vẹn của mình khi kết hôn nên vợ chồng. Nhưng với người Do Thái, nói chung, tiệc cưới đều mang tính chất của một giao ước. Giao ước ấy nói lên sự ưng thuận của một người nam và một người nữ, được diễn tả bằng niềm vui viên mãn tràn đầy của một tình yêu với sự ưng thuận tự do. Những nghi lễ và phong tục đám cưới độc đáo trong mỗi quốc gia đều tôn vinh sự đa dạng văn hóa và tình yêu gia đình. Mỗi nghi lễ mang trong mình ý nghĩa sâu sắc và độc đáo, tạo nên những khoảnh khắc đáng nhớ và ý nghĩa suốt đời cho cặp đôi và người thân[8] .

1.2. Tiệc cưới, một chủ đề xuyên suốt Kinh Thánh

Như đã nói, tiệc cưới là một thực tại gắn chặt với sự hiện hữu của hữu thể người. Do vậy, đây là một chủ đề xuyên suốt trong Thánh Kinh, vì hôn nhân là một thực thể của sáng tạo, của bản thể người[9] . 

Trong Cựu Ước, đám cưới thường gồm một vài yếu tố chính là việc đính hôn, của hồi môn và tiệc cưới. Trong đó, đính hôn là việc thực hiện cam kết công khai, thường kéo dài khoảng một năm. Khi đính hôn, cặp đôi đã có sự bó buộc về mặt pháp lý, dù chưa chính thức chung sống. Sau thời gian đính hôn, tiệc cưới, trọng tâm của hôn lễ, được tổ chức, thường kéo dài vài ngày tới cả tuần với sự tham dự của gia đình và bạn bè[10] .

Cách cụ thể, ngay những trang đầu Kinh Thánh, một đám cưới tuyệt đẹp đã được diễn tả đầy thi vị. Với tình yêu thuở ban đầu, người nam, người nữ trần truồng mà không xấu hổ (x. St 2,25). Tiệc cưới đầu tiên do Thiên Chúa là chủ hôn, với chú rể đầu tiên là Ađam và cô dâu Evà. Nơi đó, Thiên Chúa đã chúc phúc cho cuộc hôn nhân đầu tiên và đã kí với họ giao ước đầu tiên. Đúng như lời Kinh Thánh diễn tả: “Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). Từ giao ước đầu tiên ấy, con người và dòng dõi họ không ngừng viết tiếp những câu chuyện tình tuyệt đẹp. Do đó, từ thuở ban đầu, không có luật phàm nhân nào có thể tước cái quyền tự nhiên và uyên nguyên của con người là cưới vợ, lấy chồng. Cũng chẳng có thế lực nào giới hạn bằng bất cứ cách nào mục đích chính yếu của hôn nhân, đã được thẩm quyền Thiên Chúa quy định ngay từ lúc khởi đầu: “Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều cho đầy mặt đất” (St 1,28) [11] .

Cuộc hôn nhân giữa Isaác và Rêbêca (x. St 24) mô tả những thông lệ của việc đính hôn, cùng những cam kết trong hôn nhân. Cuộc hôn nhân này là minh chứng về công thức và lời chúc phúc cổ xưa cho một dịp như vậy. Điểm nhấn của nghi lễ này là của hồi môn (tiếng Do Thái: mohar), được trao cho cha mẹ, chứ không phải cho cô dâu[12] . Cũng thế, tiệc cưới cũng là thời gian diễn tả niềm vui và tôn vinh tình yêu, như chúng ta thấy trong cuộc hôn nhân đặc biệt giữa Giacóp với Lêa và Rakhen (x. St 29) [13] .

Cũng trong Cựu Ước, chúng ta cũng thấy một cuộc hôn nhân, một tiệc cưới đầy màu sắc được Thiên Chúa chúc phúc giữa Tôbia và Xara. Họ là những tấm gương về lòng tin tưởng Thiên Chúa và trung thành với Lề Luật. Nơi đó, một đám cưới đặc biệt, mang nhiều ý nghĩa với một kết thúc viên mãn qua lời ghi chú cách thức Tôbia và Xara đã trở thành cặp vợ chồng Do Thái lý tưởng: yêu nhau tha thiết, sùng mộ, luôn ca tụng Thiên Chúa suốt cuộc đời trường thọ và hạnh phúc của mình[14] . 

Cùng với đó, một chuyện tình có thể nói khá cay nghiệt của Hôsê, một chàng trai vì một tiếng thì thầm linh thiêng nào đó thúc đẩy, đã nhận lệnh của Đức Chúa xây dựng một mái ấm gia đình với “một người đàn bà làm điếm” (x. Hs 1,2) [15] . Đó là cách Kinh Thánh diễn tả giao ước và tình yêu của Thiên Chúa với dân Ngài, một trong những biểu tượng thú vị về mối tương quan giữa Thiên Chúa và Israel… 

Trong Tân Ước, hình ảnh tiệc cưới hay hôn nhân như thể vắng bóng hơn trong cuộc sống trần thế của Ngôi Lời Nhập Thể. Nhưng ngay đầu Tin Mừng, cụ thể nơi Tin Mừng theo thánh Mátthêu (x. Mt 1,18-25), một cuộc hôn nhân nhiều trắc trở, nhưng viên mãn nơi gia đình Thánh Gia đã được phác hoạ đầy màu sắc và ý nghĩa, để diễn tả gốc tích thần linh của Ngôi Lời Nhập Thể. Trong cuộc hôn nhân đó, trước khi đón vợ về nhà bằng một tiệc cưới vui mừng, chú rể Giuse đã phải trải qua cuộc chiến đấu cam go của nội tâm, khi đối diện với việc Đức Maria có thai “trước khi hai ông bà về chung sống do quyền năng Chúa Thánh Thần” (x. Mt 1,18). Nhưng rồi, khi nhận ra ý Chúa, chàng rể Giuse đã mau mắn đón vợ về nhà mình (Mt 1,24). Đó là một hành động không chỉ giúp Maria thoát khỏi những dị nghị của tập tục xã hội, nhưng còn thoát khỏi “làn mưa đá” được Lề Luật cho phép[16] . Nhờ đó, các ngài cùng nhau xây dựng một gia đình thánh hạnh phúc, dù chẳng phải lúc nào cũng êm ả.

Cũng trong Tin Mừng, ngoài tiệc cưới duy nhất mang đậm chất Do Thái diễn ra tại Cana, miền Galilê, trong TMT4, nơi mà chính Chúa Giêsu tham dự (x. Ga 2,1-12), thì hình ảnh tiệc cưới hay hôn lễ chỉ xuất hiện dưới hình thức các dụ ngôn (x. Mt 9,15; Mt 22,1-14; Mt 25,1-13; Mc 2,19; Lc 5,34). Nơi đó, Chúa Giêsu sử dụng hình ảnh tiệc cưới để diễn tả thực tại Nước Trời, hoặc nơi các cuộc tranh luận về vấn đề li dị, hay ngoại tình (x. Mt 5,27-31; Mt 19,1-9; Mc 10,9). Qua đó, Chúa Giêsu thừa nhận rằng, do nhu cầu phát triển xã hội, Môsê đã sửa đổi giao ước hôn nhân đến mức cho phép và điều chỉnh việc ly hôn. Tuy nhiên, khi Ngôi Lời Nhập Thể, Ngài coi sự sửa đổi đó là không phù hợp với giao ước ban đầu. Từ đó, Ngài xác lập lại mục đích ban đầu về hôn nhân của Thiên Chúa, đó là chế độ một vợ một chồng, bất khả phân ly. Do đó, bất kỳ hình thức đa thê nào, và rõ ràng là ly hôn, đều bị loại trừ bởi ý định và mục đích của Thiên Chúa: “Sự gì Thiên Chúa phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6; Mc 10,9) [17] .

Trong khi đó, nơi các Thánh Thư, tiệc cưới dù không được nói tới cách trực tiếp, nhưng qua lối nói so sánh, thánh Phaolô ví Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô (Ep 5,21-33). Đặc biệt, hình ảnh tiệc cưới được diễn tả sống động trong Tiệc Cưới Con Chiên (x. Kh 19,6-9), được nói tới trong cuốn sách cuối cùng của toàn bộ Kinh Thánh, diễn tả một mối tương quan, một thực tại thánh thiêng và sâu nhiệm của Ngày Cánh Chung[18] .

Như thế, có thể nói, dù trực tiếp hay gián tiếp, trong toàn bộ Kinh Thánh, chủ đề tiệc cưới là một chủ đề quen thuộc và xuyên suốt. Và dù hôn nhân, hay đám cưới có lẽ không còn là điều phổ biến như nó đã từng cách đây vài thế hệ do nhiều lý do, nhưng Thiên Chúa luôn tin vào hôn nhân và gia đình. Ngài chúc phúc cho mối tương quan yêu thương này[19] . 

  1. Một chủ đề giàu tính biểu tượng

Cùng với việc diễn tả những nét đặc trưng nơi tiệc cưới của người Do Thái, thì trong Kinh Thánh, tiệc cưới cũng là một chủ đề giàu tính biểu tượng. Qua hình ảnh tiệc cưới, tác giả Kinh Thánh hẳn nhiên muốn gửi gắm những sứ điệp thần học, hay những thực tại sâu xa mời gọi người đọc không ngừng khám phá. Vì thế, để khám phá Rượu Mới trong Tiệc cưới Cana, thật hữu lý khi chúng ta cùng điểm qua một vài nét đặc trưng của ngôn ngữ biểu tượng, trước khi làm nổi bật tính biểu tượng phong nhiêu của tiệc cưới trong Kinh Thánh.

2.1. Biểu tượng trong Kinh Thánh

Ngày nay người ta trở lại ưa chuộng các biểu tượng. Trí tưởng tượng không còn bị khinh miệt, coi là con điên trong nhà. Nó được phục hồi danh dự, thành chị em sinh đôi của lý trí, nguồn cảm hứng cho các khám phá và tiến bộ[20] . Thuật ngữ biểu tượng xuất phát từ động từ Hy Lạp symballein (σῠμβάλλω) nghĩa là ráp lại với nhau, tạo nên sự hợp nhất giữa hai phần thuộc sở hữu của đôi bên và được ghép lại thành một. [21]  

Ở đây, chúng ta cần phải phân biệt giữa biểu tượng với các dạng dấu hiệu như biểu hiệu, vật hiệu, phúng dụ, ẩn dụ, loại suy, triệu chứng, dụ ngôn hay ngụ ngôn luận lý… Biểu tượng khác cơ bản với dấu hiệu ở chỗ, các dấu hiệu là một quy ước tuỳ tiện, trong đó cái biểu đạt và cái được biểu đạt vẫn xa lạ với nhau. Trong khi biểu tượng giả định có sự đồng nhất giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt theo nghĩa một lực năng động tổ chức[22] . Cũng vậy, khác với dấu chỉ và hình ảnh, khác với ẩn dụ và ngụ ngôn, biểu tượng không chỉ là quy ước, mà còn là sự tương đồng. Ngoài việc báo hiệu và biểu thị mối tương quan giữa hai thành phần được biểu tượng hoá, nó còn thiết lập cấu thành chính nó…[23] 

Vì được diễn tả bằng ngôn ngữ của con người, một thực tại rất giới hạn để diễn tả những thực tại sâu xa, Kinh Thánh sử dụng rất nhiều hình ảnh, ngôn ngữ biểu tượng. Quả thật, hầu hết các học giả đều chân nhận rằng các biểu tượng trong Kinh Thánh quá nhiều và rất khác nhau. Do đó, để hiểu được rõ ràng hơn, người ta phải thường gom chung những biểu tượng tương tự lại với nhau. Những phạm trù để gom chung các biểu tượng là sự vật (đồ vật, thú vật, yếu tố thiên nhiên, cỏ cây…), hành động, con số, tên riêng…[24]  Về mặt giá trị, trong Kinh Thánh, phần lớn các biểu tượng đều “độc giá”, nghĩa là mỗi biểu tượng biểu thị một thực tại trừu tượng. Trong số các biểu tượng độc giá, có những biểu tượng độc giá tích cực như ánh sáng, muối, màu trắng, bên phải…. Nhưng cũng có những biểu tượng độc giá tiêu cực, chẳng hạn bóng tối, hoả ngục, bên trái… Bên cạnh những biểu tượng độc giá, cũng có một số biểu tượng “đa giá”, nghĩa là một biểu tượng biểu thị nhiều thực tại trừu tượng, mỗi thực tại có thể có giá trị tích cực hoặc tiêu cực. Ví dụ như con sư tử có khi biểu thị Satan (x. 1Pr 5,8), nhưng cũng có khi biểu thị Đấng Mêsia (x. Kh 5,5)… [25] 

Nói chung, biểu tượng trong Kinh Thánh rất phong phú và phức tạp. Chính vì thế việc tìm hiểu khái quát biểu tượng trong Kinh Thánh chắc chắn sẽ rất hữu ích giúp chúng ta có thể dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với TMT4 – Tin Mừng có đặc tính biểu tượng. Cách riêng, trình thuật tiệc cưới Cana là một trong những dấu lạ kiểu mẫu về ngôn ngữ biểu tượng. 

2.2. Tiệc cưới, một chủ đề giàu tính biểu tượng

Triết gia và thần học gia người Đan Mạch Søren Kierkegaard định nghĩa thật hay về cuốn Kinh Thánh: “Kinh Thánh là thư tình mà Thiên Chúa gửi cho con người”(Youcat, số 14). Quả thật, Kinh Thánh là giao ước tình yêu mà Thiên Chúa đã kí kết với con người trong suốt dòng lịch sử. Lật giở từng trang Kinh Thánh, chúng ta không khó nhận ra Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ của tình yêu. Do đó, có thể nói câu chuyện Kinh Thánh như một tiệc cưới, nơi con người và Thiên Chúa thực hiện những cam kết của mình bằng tình yêu. Qua đó, một mặt, Thiên Chúa chúc phúc cho hôn nhân và gia đình nơi các tiệc cưới. Nhưng mặt khác, Ngài cũng muốn dùng đó như một cách để diễn tả tình yêu và giao ước của Ngài với con người. Chính vì thế, không chỉ dừng lại ở việc diễn tả những tiệc cưới thông thường trong văn hoá Do Thái, nhưng hình ảnh tiệc cưới còn chất chứa nhiều hình ảnh biểu tượng sâu xa.

Trong Cựu Ước, Kinh Thánh mở đầu với cuộc hôn nhân đầu tiên của nhân loại giữa Ađam và Evà. Trong đó, Ađam không chỉ là một chú rể nào đó, nhưng là chú rể phổ quát. Ông đã kết hôn với toàn thể nhân loại. Dĩ nhiên “toàn nhân loại” ở điểm này là chỉ duy nhất một người khác. Nhưng đồng thời, ông cũng đã kết hôn với phần còn lại của cả nhân loại. Điều này cho chúng ta thấy hình ảnh cứu cánh của mình nơi Ađam. Khi Ađam thốt lên một bài thơ tuyệt vời, bài thơ đầu tiên được tìm thấy trong Kinh Thánh: “Xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi; nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì nàng được rút ra từ đàn ông” ( St 2,23), thì ngoài tính thi ca, câu nói nhỏ đầy súc tích này của Ađam là thứ ngôn ngữ để kí kết giao ước[26] . 

Thật vậy, ý niệm về hôn nhân thánh thiêng được biết nhiều trong thời cổ và Cựu Ước cũng không phải là ngoại lệ[27] . Trong đó, Hôsê là ngôn sứ đầu tiên giải thích Giao ước bằng hình bóng của tương quan vợ chồng[28] . Cụ thể, đoạn sách Hs 2,4-25 diễn tả tương quan tình yêu của người chồng chung thủy với người vợ bất trung. Tương quan ấy biểu tượng cho mối quan hệ giữa Đức Chúa với dân Israel. Trong đó, Đức Chúa đã dùng tình thương để đối xử với dân, bất kể những tội lỗi mà dân đã vi phạm. Tình thương ấy vượt hẳn những lập luận nhân quả mà lý trí có thể đề ra. Tình thương ấy được thể hiện cách hoàn hảo nơi Chúa Giêsu và vẫn mở ngỏ cho người Kitô hữu con đường để sống đức tin của mình mỗi ngày tự do và trưởng thành hơn[29] .

Cũng trong Cựu Ước, nơi Sách Khôn Ngoan, một bài thơ tôn vinh vẻ đẹp và sự thân mật của tình yêu hôn nhân, thường được hiểu là một phép biểu tượng về tình yêu của Chúa đối với dân Ngài. Cũng vậy, hình ảnh của một tiệc cưới được sử dụng để mô tả mối quan hệ giao ước giữa Thiên Chúa và Israel, như được thấy trong Isaia 54,5: “Quả thế, Đấng cùng ngươi sánh duyên cầm sắt chính là Đấng đã tác thành ngươi, tôn danh Người là Đức Chúa các đạo binh” [30] .

Như thế, tương quan tình yêu mà Thiên Chúa theo đuổi tất cả chúng ta, và từng người chúng ta, thì không phải là chuyện tình cờ, không phải là trò hẹn hò lúc có, lúc không. Mối tương quan giao ước mà Thiên Chúa muốn có với con người là một cuộc hôn nhân vĩnh cửu. Trong đó, bất chấp việc con người hết lần này đến lần khác bội phản, Thiên Chúa làm tất cả những gì Ngài đã cam kết bằng một tình yêu kéo dài. Cam kết đó không chỉ “cho tới khi chết mới làm chia lìa chúng ta”, nhưng mãi đến muôn đời. Tất cả những thứ đó được gói gọn trong một từ nhỏ nhoi được gọi là giao ước[31] . 

Trong khi đó, nơi Tân Ước, hình ảnh tiệc cưới thường được Chúa Giêsu dùng để diễn tả thực tại Nước Trời hay cuộc quang lâm của Đức Kitô qua các dụ ngôn. Chẳng hạn, như trong dụ ngôn Mười trinh nữ (x. Mt 25,1-13), tình yêu dấn bước của Thiên Chúa thật sống động qua hình ảnh “chàng rể”. [32]  Trong đó, vai trò của chú rể và nàng dâu mang tính biểu tượng, với việc chú rể dẫn đầu đoàn rước để đi đón dâu, như được mô tả trong dụ ngôn. Dụ ngôn này sử dụng bối cảnh tiệc cưới để chuyên chở một chân lý thần linh về cuộc quang lâm của Đức Kitô, nơi mà mọi người được mời gọi luôn sẵn sàng và tỉnh thức. Trong khi đó, dụ ngôn “Tiệc cưới” (x. Mt 22,1-14) sử dụng hình ảnh tiệc cưới để mô tả thực tại Nước Trời. Trong đó, lời mời dự tiệc cưới biểu tượng cho lời mời gọi đón nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa, và việc khước từ của một số khách mời diễn tả sự khước từ ơn cứu độ[33] .

Cũng vậy, Thánh Phaolô sử dụng hình ảnh hôn nhân để trình bày giáo huấn của mình về mối tương quan giữa Hội Thánh và Đức Kitô. Qua việc nhấn mạnh tình yêu, sự kính trọng và sự tùng phục lẫn nhau trong tương quan phu phụ, thánh nhân diễn tả Đức Kitô là Phu Quân và Hội Thánh là Hiền Thê của Đức Kitô (x. Ep 5,25) [34] .

 Và cuối cùng, trong sách Khải Huyền (x. Kh 19,7-9), hình ảnh cô dâu và chú rể được sử dụng để mô tả sự kết hợp tiên trưng giữa Đức Kitô và Hội Thánh của Ngài. Trong đó, “Tiệc cưới của Con Chiên” là hình ảnh biểu tượng nơi các tín hữu, như cô dâu của Đức Kitô, sẽ được kết hợp với Ngài trong sự hiệp thông vĩnh cửu. “Hạnh phúc thay kẻ được mời đến dự tiệc cưới Con Chiên” (Kh 19,9) [35] .

Tóm lại, tiệc cưới là chủ đề xuyên suốt và giàu tính biểu tượng trong Kinh Thánh. Từ đầu đến cuối, Kinh Thánh nói về hôn nhân và mầu nhiệm hôn nhân, về việc thiết lập ý nghĩa mà Thiên Chúa đã ban cho hôn nhân. Cũng như về nguồn gốc và mục đích của hôn nhân, hay về những việc thực hiện khác nhau của hôn nhân qua dòng lịch sử cứu độ. Đồng thời, Kinh Thánh không quên nói về những khó khăn của hôn nhân phát sinh do tội lỗi, và việc canh tân hôn nhân “trong Chúa”, trong Giao Ước Mới của Đức Kitô và Hội Thánh[36] . Trong đó, Thiên Chúa luôn chúc phúc cho tình yêu phu phụ và dùng hình ảnh tiệc cưới diễn tả giao ước tình yêu của Ngài với nhân loại. Để rồi, qua hình ảnh tiệc cưới, Thiên Chúa kí kết một giao ước với con người và thể hiện sự trung thành trung tín của Ngài trong việc thực hiện giao ước ấy. Dù cho con người không ngừng bội phản phá bỏ hôn ước ấy thì Thiên Chúa vẫn trung tín: “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở” (Gr 31,3). 

  1. ^ SGLHTCG, số 105-106
  2. ^ Joseph Ratzinger, Thiên chúa và trần thế, Nxb. Tôn Giáo, 2023, 431
  3. ^ Vương Tú Trung, Phong tục nghi lễ văn hóa xưa và nay, Nxb. Hà Nội, 2009, 47-48
  4. ^ Vinhsơn Mai Văn Kính, Ngôi Lời trở thành Đấng bị đâm thâu, Nxb. Đồng Nai, 2019, 75
  5. ^ Ban Từ Vựng Công Giáo, UBGLĐT, HĐGMVN, Từ điển Công giáo, “Giao ước”, 2016, 334-335
  6. ^ Lm. Barnabar Trần Đình Phục, Hướng dẫn mục vụ hôn nhân theo giáo luật và thần học, Nxb. Đồng Nai, 2023, 58
  7. ^BibleWorks, ISBE Bible Dictionary, s.v. “Marriage.”
  8. ^ Banghenhahangtieccuoi, “Đám cưới truyền thống ở các quốc gia,” truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2026, https://banghenhahangtieccuoi.vn/dam-cuoi-truyen-thong-o-cac-quoc-gia/
  9. ^ Joseph dore, Tự điển thần học công giáo, Nxb. Tôn Giáo, “Hôn nhân”, 2015, 341
  10. ^ Bible Hub, “Wedding,” Topical Lexicon, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025, https://biblehub.com/topical/t/the_wedding.htm
  11. ^ Heinrich Denzinger, Các tín biểu, định tín và tuyên bố của Giáo hội Công Giáo trong lãnh vực đức tin và phong tục, Lm. Nguyễn Văn Hoà, OP chuyển ngữ, 2019, số 3702
  12. ^ BibleWorks, ISBE Bible Dictionary, s.v. “Marriage.”
  13. ^ Bible Hub, “Wedding,” Topical Lexicon, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025, https://biblehub.com/topical/t/the_wedding.htm
  14. ^ Lawrence Boadt, Dẫn vào Cựu Ước, Lm. Simon Nguyễn Phú Cường và J.B. Phạm Đức Sử chuyển ngữ, Nxb. Đồng Nai, 2022, 612
  15. ^ Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS, Giới thiệu ngôn sứ Kinh Thánh, Nxb. Tôn Giáo, 2022, 380
  16. ^ Vinhsơn Mai Văn Kính, Tin Mừng Đấng Emmanuel, Nxb. Đồng Nai, 2025, 40
  17. ^ BibleWorks, ISBE Bible Dictionary, s.v. “Marriage.”
  18. ^ Bible Hub, “Wedding,” Topical Lexicon, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025, https://biblehub.com/topical/t/the_wedding.htm
  19. ^John Bergsma, Những điều căn bản về Kinh Thánh cho người Công Giáo, Phêrô Nguyễn Ngọc biên dịch, Nxb. Đồng Nai, 2021, 22
  20. ^Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb. Đà Nẵng, 1997, Lời mở đầu, XIII
  21. ^Giuse Phạm Quốc Điêm, Các Bí tích của Đức Kitô được giao phó cho Giáo hội, Bí tích đại cương, Nxb. Đồng Nai, 2023, 141
  22. ^ Jean Chevalier và Alain Gheerbrant, Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới, Nxb. Đà Nẵng, 1997, Lời mở đầu, XIX
  23. ^ Giuse Phạm Quốc Điêm, Các Bí tích của Đức Kitô được giao phó cho Giáo hội, Bí tích đại cương, Nxb. Đồng Nai, 2023, 139
  24. ^ Nil Guillemette, Chiều ngày thứ ba, một phương pháp chú giải Tân Ước, Lm Carolo Hồ Bạc Xái Chuyển ngữ, Nxb. Phương Đông, 2014, 256
  25. ^ Ibid., 254-255
  26. ^ John Bergsma, Những điều căn bản về Kinh Thánh cho người Công Giáo, Phêrô Nguyễn Ngọc biên dịch, Nxb. Đồng Nai, 2021, 43
  27. ^ Lm. Bernard Phạm Hữu Quang, PSS, Giới thiệu ngôn sứ Kinh Thánh, Nxb. Tôn Giáo, 2022, 380
  28. ^ Ibid., 329
  29. ^ Giuse Tuân Vũ Chí Thành, S.J., “Hôn nhân của ngôn sứ Hô-sê và bà Gô-me: Biểu tượng của tương quan giữa Đức Chúa và dân Ít-ra-en,” đăng ngày 19 tháng 5 năm 2021, truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2026, https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/hon-nhan-cua-ngon-su-ho-se-va-ba-go-me-bieu-tuong-cua-tuong-quan-giua-duc-chua-va-dan-it-ra-en-41930
  30. ^ Bible Hub, “Wedding,” Topical Lexicon, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025, https://biblehub.com/topical/t/the_wedding.htm
  31. ^John Bergsma, Những điều căn bản về Kinh Thánh cho người Công Giáo, Phêrô Nguyễn Ngọc biên dịch, Nxb. Đồng Nai, 2021, 22-23
  32. ^ Vinhsơn Mai Văn Kính, Tin Mừng Đấng Emmanuel, Nxb. Đồng Nai, 2025, 323
  33. ^ Bible Hub, “Wedding,” Topical Lexicon, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2025, https://biblehub.com/topical/t/the_wedding.htm
  34. ^ Ibid.
  35. ^ Ibid.
  36. ^SGLHTCG, số 1602

Tác giả: Thất Nguyễn

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây