Dầu thơm

Thứ hai - 30/03/2026 04:11  16
699e65b6efc60cc2af09c95b 1771992779444- Như chúng ta đã biết, dầu, nhất là dầu ôliu trong các bản văn Cựu Ước, cùng với lúa mì và rượu, là một trong những thực phẩm thiết yếu của cuộc sống, nghĩa là không thể thiếu, ngay cả trong thời kỳ đói kém, như đã thấy trong hoàn cảnh mà tiên tri Êlia đã trải qua (1 V 17,7-16); đó còn là dấu hiệu của sự giàu sang: “dầm chân trong dầu” (Xh 33,24; cf. Gv 7,1); niềm vui và sức mạnh (Tv 45,8; 133,2; Is 61,3). Dầu là nguồn của cải vì nó có thể được sử dụng với nhiều mục đích và ứng dụng khác nhau. Dầu được dùng để làm thực phẩm, có thể dùng sống hoặc chế biến. Dầu dùng để thắp sáng, vì lý do này nó cũng được coi là nguồn sáng và do đó là nguồn vui và lễ hội (Xh 27,20; Mt 25,3-8). Vào thời cổ đại, dầu cũng được dùng để làm ra nước hoa, kết hợp với các tinh chất quý giá trở thành loại nước hoa hoàng gia, dầu cam tùng, một loại dầu quý mà TM nhắc đến (Mc 14,3). Thánh Gioan còn thêm chi tiết: “cả nhà sực mùi thơm” (Ga 12,3).

Dầu ôliu được coi là có sức mạnh và năng lực thiêng liêng đặc biệt: khi đổ lên đầu ai, nó sẽ nâng người đó lên hàng vua chúa, thầy cả, tiên tri hay sứ giả. Dầu mang lại phúc lành thiêng liêng, sự khôn ngoan, tình bạn, tình anh em, niềm vui và hạnh phúc, sự tuyển chọn và thậm chí là hình ảnh Thánh Thần Chúa. Trong Cựu Ước, nghi lễ xức dầu luôn mang ý nghĩa tôn giáo và được coi là sự thánh hiến: chỉ định cho một người làm vua, như Samuel đã xức dầu cho Đavít phong ông làm vua (1 Sm 10,16), phong làm ngôn sứ hay thượng tế. Hình thức danh từ “Đấng được xức dầu”, tiếng Do Thái “Messia”, tiếng Hy Lạp “Christos”, như một từ đồng nghĩa với Vua, được Thiên Chúa lập nên; ngôn sứ được giao nhiệm vụ; cuối cùng trở thành hiện thực của niềm hy vọng Israel về Đấng giải phóng. Thật đáng chú ý khi Chúa Giêsu, trong hội đường Capharnaum, áp dụng cho chính mình những lời tiên tri Isaia (Lc 4,18).

Hơn nữa, dầu còn là thuốc thẩm thấu, bao phủ, thấm đẫm vào trong thực tại, vào cơ thể, nhào bột (Xh 29,2; Lv 2,4; Ds 6,15) hay da khiên (Is 21,5). Vì tính chất này, nó được dùng để làm dịu vết thương và cơn đau, biểu thị lòng thương xót (Is 1,6; Gr 8,22; Lc 10,34), duy trì tốt cho cơ thể, làm cho nó thơm tho, sáng sủa và dẻo dai; xức lên các phần cơ thể (Xh 25,6; Am 6,6; Mk 6,15; Tv 133,2; Gv 9,8; Ed 16,9). Phụng vụ thánh hiến dầu nhắc lại rằng Đavít “đã ngợi ca loại dầu này khiến khuôn mặt chúng con rạng ngời niềm vui”, đó là lý do tại sao “việc xức dầu này đem lại cho chúng con niềm vui và sự bình an”[1]. Dầu có nhiều tác dụng như tăng cường sức khoẻ, làm săn chắc cơ bắp: nó được dùng cho các vận động viên, chuẩn bị tham gia các cuộc thi đấu[2]. Việc xức dầu cũng có tác dụng giúp thoát khỏi sự kìm kẹp của đối thủ. Chúng ta biết rằng ở Đông phương, dầu thơm còn được cho là có khả năng xua đuổi thế lực tiêu cực, tà ác và những ảnh hưởng không lành mạnh. Mêtôđiô Ôlimpô († 311) cho biết rằng dầu, ngoài tác dụng có lợi cho cơ thể bằng cách xua tan mệt mỏi và đau đớn, còn cung cấp ánh sáng: đổ dầu vào đèn sẽ làm cho ngọn lửa cháy to hơn[3].

- Về cây ôliu, các nhà thơ Cựu Ước đã ca ngợi vì nó là biểu tượng cho ơn cứu độ và sự thịnh vượng: “Hiền thê bạn trong cửa trong nhà khác nào cây nho đầy hoa trái; và bầy con tựa những cây ôliu mơn mởn, xúm xít tại bàn ăn” (Tv 128,3). Tiên tri Hôsê ca ngợi về sức mạnh và vẻ đẹp của cây ôliu: “Họ sẽ đâm chồi nẩy lộc, sum sê tựa ôliu tươi tốt, tỏa hương thơm ngát như rừng Libăng (Hs 14,7). Trong phần mô tả về nơi cực thánh đền thờ Giêrusalem, có ghi rằng: “cánh cửa bằng gỗ ôliu quý, khung cửa có năm cạnh. Trên hai cánh cửa bằng gỗ ôliu, vua chạm trổ những hình Kêrubim, hình cây chà là và nhành hoa, rồi vua dát vàng; vua trải mỏng vàng trên các Kêrubim và các cây chà là. Cửa vào cung thánh, vua cũng làm như thế; trụ khung cửa bằng gỗ ôliu, nhưng có bốn cạnh” (1 V 6,31-33).

Khi tôn vinh Giuđitha, người ta “đội vòng hoa kết bằng cành ôliu; bà đi trước toàn dân, dẫn đầu đoàn phụ nữ múa nhảy” (Gđt 15,13). Như thế, cây ôliu luôn có vị trí quan trọng trong đời sống văn hoá và xã hội, vì dầu của nó có nhiều công dụng, đồng thời cũng có vị trí quan trọng trong đời sống tôn giáo và văn học, vì nó chứa đựng nhiều ý nghĩa biểu tượng. Cành ôliu là biểu tượng cho hoà bình thế giới, xuất phát từ Thánh Kinh liên quan đến chim bồ câu bay về tàu ông Nôê đem theo nhành ôliu để chỉ ra rằng nước lụt đã hết (St 8,11).

- Tuy nhiên, dầu của người chịu phép thêm sức, dầu mýron, phân biệt với dầu của người dự tòng vì nó chứa các chất thơm và một số hương liệu được người Đông phương thêm vào. Do đó, dầu trong phép thêm sức là dầu thơm[4].

Trong đời sống thường ngày đối với người Đông phương, nước hoa/dầu thơm là một yếu tố quan trọng, nó trở nên thiết yếu như việc ăn uống. Trong cung điện nhà vua, nó là một trong những của cải thể hiện sự giàu sang phú quý: “vua Khítkigia cho họ xem mọi kho tàng của vua, vàng bạc, hương liệu, dầu quý, kho vũ khí và tất cả những gì có trong các nơi dự trữ của vua” (2 V 20,13). Dưới khía cạnh xã hội học, thông qua dầu và hương thơm, con người thể hiện niềm vui của mình, biến nó thành lý do để ăn mừng và để tăng thêm vẻ đẹp: “dầu và hương thơm làm phấn khởi lòng người, tình bạn ngọt ngào giúp tinh thần thêm vững mạnh” (Cn 27,9); “họ xức dầu thơm hảo hạng” (Am 6,6); “chỗ em nằm, em rảy dầu thơm chế từ một dược, lô hội và nhục quế” (Cn 7,17). Dầu thơm thấm vào cơ thể người nào thì nó là đặc trưng cho người đó, biểu tượng cho sự hiện diện của tâm hồn. Sự lưu lại mùi hương của một người sau khi họ rời đi gợi lên ý niệm về sự tồn tại và ký ức của người đó. Dầu thơm có sức lan toả, nó ám chỉ đến sự cam kết làm chứng của các Kitô hữu, những người đã được xức dầu.

Dầu thơm còn mang ý nghĩa của sự thân mật, nhất là những người đang yêu, không phải ngẫu nhiên mà nó gắn liền với hương vị tình yêu: “mùi hương anh thơm ngát, tên anh là dầu thơm man mác toả lan, thảo nào các thiếu nữ mê say mộ mến. Hãy kéo em theo anh, đôi ta cùng mau bước!” (Dc 1,3-4); “dầu cam tùng của tôi tỏa hương thơm ngát” (12); “em ngan ngát hương thơm, hơn muôn loài phương thảo” (4,10). Những đoạn Thánh Kinh liên quan đến hai nữ anh hùng Ester (2,12-17) và Giuđitha cũng mang tính biểu tượng (Gđt 10,3-4)[5]. Trong bối cảnh này, dầu thơm cũng là yếu tố nhận diện, biểu thị sự gắn bó và trở thành biểu tượng cho sự gần gũi vợ chồng.

Trong chiều kích tôn giáo, dầu thơm còn là biểu tượng của sự dâng hiến và tôn thờ Thiên Chúa. Phụng vụ đền thờ có đặt một bàn thờ để đốt hương (Xh 30,1-10; 1 V 7,50; Ds 7,86). Mỗi ngày vào buổi sáng và chiều tối, người ta đều dâng hương trước nhan Đức Chúa (Xh 30,7-8). Mùi hương bay lên diễn tả tâm tình ca khen (Kn 18,21; Tv 141,2; Kh 8,2-5; 5,8). Ngoài ra, dầu còn mang chiều kích thần linh và do đó được coi là sự toả sáng của chính Thiên Chúa. Đức Khôn ngoan được coi là xuất phát từ Thiên Chúa. Trong sách Diễm Ca, hương thơm của Tân Lang/Thiên Chúa được trình bày là thứ vượt trội hơn mọi hương thơm tự nhiên: “Mùi hương anh thơm ngát, tên anh là dầu thơm man mác tỏa lan” (Dc 1,3). Trong Tân Ước, Chúa Kitô được trình bày như hương thơm của Thiên Chúa, đã dâng mình cho Chúa như của lễ thơm tho (Ep 5,2). Các Kitô hữu cũng được coi là hương thơm của Chúa Kitô (2 Cr 2,14-17).

Như thế, dầu giúp tăng cường sức khoẻ cho cơ thể, mang lại sự nhanh nhẹn hơn trong chiến đấu và sẵn sàng cũng như có khả năng thoát khỏi sự kìm kẹp của đối thủ. Nó cũng chỉ ra việc Chúa chiếm hữu người mà Ngài gọi và sau đó thánh hiến người ấy (vua, tư tế và tiên tri). Việc xức dầu bằng dầu thơm cũng chứng tỏ giá trị biểu tượng nằm ở trung gian giữa yếu tố chất lỏng (dầu/nước) và yếu tố không khí (thơm/gió). Hương thơm thiêng liêng dẫn chúng ta đến sự thân mật với Chúa, vì hương thơm biểu thị cuộc gặp gỡ sống động và yêu thương. Hơn nữa, dầu thơm mang ý nghĩa loan truyền thông điệp TM, tận tuỵ phục vụ tha nhân. Nó còn thể hiện niềm vui, gợi nhớ dầu hoan lạc của Đấng Messia/Chúa Kitô (Tv 14,8; Dt 1,9).

- Trong Cựu Ước, dầu thánh có một vị trí quan trọng, được dùng để thánh hiến trụ đá tưởng niệm (St 28,18) hay các đồ thờ (Xh 30,25ss; 40,9ss; Lv 8,10ss). Dầu cũng được dùng để thánh hiến các vị vua. Ban đầu, chỉ có các vua mới được xức dầu, sau đó, các tư tế cũng được xức dầu, chứ không chỉ có các thượng tế. Các tiên tri được xức dầu bằng dầu Thánh Thần, nhưng cách thiêng liêng chứ không phải nghi lễ. Chỉ có tiên tri Êlisa là được xức dầu đúng nghĩa[6]. Đối với những người này, qua và bằng phương tiện dầu, Thánh Thần đã được ban cho, khiến họ phù hợp và có khả năng thực hiện nhiệm vụ được trao phó (Dcr 4,1-14: hai cây ôliu ám chỉ vua và thượng tế).
Mối liên hệ đặc biệt được thiết lập giữa việc xức dầu và Đấng Messia, trong đó vua và thượng tế là hình ảnh của Đấng Messia là Đấng được xức dầu/Đấng Kitô tuyệt hảo (cf. Tv 2,2; 44 và 110,1). Dầu còn là biểu tượng cho quyền năng Thần Khí Chúa và việc xức dầu diễn tả cách mà Thánh Thần chiếm hữu một người (1 Sm 10,1-6; 16,3), nhờ đó họ trở thành người của Chúa, được Chúa xức dầu. Chính Chúa là Đấng chiếm hữu người được xức dầu. Đây là lý do tại sao người được xức dầu/christos không còn thuộc về chính mình nữa, mà trở thành tài sản của Chúa. Vua, tiên tri và tư tế được Chúa xức dầu, phục vụ Ngài và đặt mình dưới sự sắp đặt của Ngài. Người được tuyển chọn, được xức dầu và ban Thánh Thần sẽ làm cho Đức Chúa hiện diện trong lịch sử, chống lại mọi kẻ thù muốn hạ thấp Ngài và muốn phá vỡ kế hoạch giao ước cứu độ của Ngài. Như thế, đời sống của người được xức dầu sẽ đầy cam go vất vả, sẽ không có một cuộc sống dễ dàng, liên tục căng thẳng, giằng co giữa thế gian, lịch sử và sự siêu việt, quyền tối thượng của Chúa, giữa bản thân và sứ mạng, như trường hợp tiên tri Giêrêmia. Nhưng chính vì lý do này mà việc xức dầu diễn tả ơn ban sức mạnh do Chúa và cần thiết để người được xức dầu nhận ra và hoàn thành ơn gọi đã lãnh nhận (1 Sm 10,1-6; 2 Sm 23,1-2; Is 61,1). Cùng với ý nghĩa này, việc xức dầu thiêng liêng cũng là dấu chỉ phúc lành, ơn tuyển chọn, niềm vui, sự phong phú, tự do và sức lực. Tất cả những điều này đều liên quan chặt chẽ đến dầu thơm.

- Trong Tân Ước, toàn bộ ý nghĩa và thực tại việc xức dầu đều hướng về Chúa Kitô và tập trung nơi Người. Thực vậy, Chúa Kitô, với tư cách là Đấng Messia, hiện thực hoá tất cả những hình bóng tiên trưng đã được loan báo trước. Đức Giêsu Nazareth là Đấng Kitô/Messia (Lc 4,18: Chúa Kitô ám chỉ chính mình trong lời tiên tri Is 11,1; Mt 27,2 trước mặt Philatô). Thánh Thần ngự xuống trên Người tại sông Giorđan trong bối cảnh phụng vụ phép rửa, cũng được coi là việc xức dầu. Tuy nhiên, cần phải coi trọng việc xức dầu tại Bêtania (Ga 12,1-3) trước khi Người tiến vào thành Giêrusalem với tư cách là Đấng Cứu Thế (Ga 12,9). H. Sahlin cho rằng việc xức dầu này chắc chắn mang ý nghĩa việc Chúa Giêsu bắt đầu thực hiện chức năng Messia với tư cách là Môsê mới, rồi sau đó là Giôsuê[7]. Vào thời điểm này, dường như việc sử dụng dầu vật chất nhường chỗ cho việc xức dầu thiêng liêng mới, ban Thánh Thần.

Như thế, trong Tân Ước, xức dầu là hình ảnh tượng trưng cho hành động của Chúa Thánh Thần (Cv 10,38; 2 Cr 1,21; 1 Ga 2,20-27). Các môn đệ Chúa Giêsu nhận ra rằng chỉ mình Người xứng đáng với danh hiệu “Đấng được xức dầu” hay “Đấng Kitô” và đã làm chứng về điều đó (Mt 16,16). Chính Chúa Giêsu là Đấng được xức dầu tuyệt hảo, Đấng Messia, Đấng Kitô. Người kết hợp trong mình các chức năng vương đế, tư tế và ngôn sứ, đó chính xác là ba chức năng và ba ý nghĩa biểu tượng việc xức dầu. Dầu cũng là biểu tượng Chúa Thánh Thần. Điều này giải thích tại sao Giáo Hội coi trọng việc xức dầu: nó hiện diện trong phép rửa, thêm sức, truyền chức linh mục, giám mục, cung hiến thánh đường và xức dầu cho bệnh nhân. Tóm lại, dầu ôliu có rất nhiều lợi ích cụ thể, nhưng tính biểu tượng phong phú của dầu làm cho nó có giá trị trổi vượt. Như thế, dầu tượng trưng cho một điều rất quý giá, như Pseudo-Macariô (thế kỷ IV-V) đã nhận xét:

Giống như việc xức dầu thời các tiên tri được coi là điều vô cùng quý giá, vì các vua và tiên tri đã được xức dầu, thì bây giờ những người thuộc về Thiên Chúa cũng được xức dầu bằng dầu trên trời, trở thành Kitô hữu do ân sủng, để họ cũng trở nên vua và ngôn sứ của các nhiệm tích trên trời. […] Vì việc xức dầu, điều đến từ một cây vật chất, hữu hình, có một năng lực lớn đến nỗi những ai được xức dầu bằng dầu ấy, sẽ đạt được phẩm giá không thể nghi ngờ. […] Những ai đã được xức dầu trong tâm hồn và con người bên trong với “dầu thơm hoan lạc” (Dt 1,9) và ơn thánh hoá, mang lại niềm vui thiên đàng và thiêng liêng, nhận được dấu chỉ nước trời có sức mạnh bất diệt và vĩnh cửu, tức là “bảo chứng Thánh Thần” (2 Cr 5,5)[8].

- Các giáo phụ đào sâu ý nghĩa của dầu, đặc biệt trong tương quan với việc khai tâm Kitô giáo. Thánh Syrillô Giêrusalem đã nói:

Được coi là xứng đáng với dầu thánh này, anh em được gọi là Kitô hữu, đồng thời đạt được đúng nghĩa danh xưng này nhờ ơn tái sinh. Vì trước khi ân sủng này được ban cho anh em, anh em thật không xứng đáng với danh hiệu đó, nhưng anh em đang cố gắng để trở thành Kitô hữu. Anh em cũng nên biết rằng dầu thánh này (hay việc xức dầu) mang tính biểu tượng trong Cựu Ước. Khi Môsê truyền đạt mệnh lệnh của Chúa cho anh mình, bổ nhiệm anh làm thượng tế, đã xức dầu cho anh sau khi tắm bằng nước: và ông được gọi là Kitô vì đã được xức dầu. Cũng vậy, khi đưa Salômôn lên ngôi, vị thượng tế đã xức dầu cho ông sau khi tắm rửa cho ông tại Ghikhôn. Nhưng những điều này đã xảy ra cho họ như một hình bóng; còn đối với anh em, không phải theo hình bóng, mà là sự thật; vì đích thực anh em đã được xức dầu bởi Chúa Thánh Thần. Vì Đấng được xức dầu (Chúa Kitô) đã khởi đầu công cuộc cứu chuộc anh em[9].

Thánh Ambrôsiô cũng nói:

Sau khi chịu phép rửa, bạn tiến lên trước vị tư tế. Bạn hãy suy xét việc gì xảy ra sau đó. Há chẳng phải là điều vua Đavít đã nói như thế này sao? Như dầu quý đổ trên đầu, xuống râu, xuống cổ áo chầu Aron. Đó chính là dầu thơm mà vua Salômôn đã nói đến. Tên anh là dầu thơm man mác toả lan, thảo nào các thiếu nữ mê say níu kéo. Lạy Chúa Giêsu, ngày nay có biết bao tâm hồn được đổi mới đang yêu mến Ngài để tận hưởng hương thơm phục sinh. Họ nói: Xin lôi kéo chúng con theo Ngài. Áo Ngài thơm nức, chúng con sẽ chạy theo. Vì sao thế? Thiết tưởng người khôn thì biết mở mắt nhìn: Vì dầu quý chảy xuống râu nghĩa là chảy xuống tuổi xuân tươi đẹp; dầu quý chảy xuống râu ông Aaron để bạn nên giống nòi được tuyển chọn, nên hàng tư tế và dân riêng quý giá của Người. Quả vậy, tất cả chúng ta được xức dầu ơn thiêng để trở thành vương quốc và hàng tư tế của Thiên Chúa[10].

Được tiên trưng bằng việc xức dầu tư tế và vương đế trong Cựu Ước, việc xức dầu Kitô giáo, theo một nghĩa sâu xa hơn, là sự tham dự vào việc xức dầu của Chúa Kitô. Sau khi dành hai bài giáo lý cho phép rửa, Thánh Syrillô Giêrusalem khai triển phép thêm sức trong bài giáo lý thứ ba:

Sau khi chịu phép rửa và mặc lấy Chúa Kitô, anh em trở nên giống Con Thiên Chúa. Vì Thiên Chúa đã dự định từ trước cho anh em được làm dưỡng tử, nên đã dựng nên anh em giống thân thể vinh hiển của Chúa Kitô. Khi được dự phần với Chúa Kitô, anh em được gọi một cách chính đáng là những Kitô. Giờ đây anh em trở thành Kitô khi anh em lãnh nhận bí tích Chúa Thánh Thần. Tất cả những điều này được thực hiện cách biểu tượng, vì anh em là hình ảnh Chúa Kitô, sau khi thanh tẩy tại sông Giorđan và truyền vào nước hương thơm của thần tính mình, Người bước lên khỏi sông Giorđan đang lúc Chúa Thánh Thần đích thân ngự xuống trên Người. Cả anh em nữa, cũng giống như thế, khi bước ra khỏi bể tắm nước thiêng liêng, anh em nhận được việc xức dầu, bí tích mà Chúa Kitô đã được xức dầu. Nói cách khác, anh em đã nhận được Chúa Thánh Thần, Đấng mà tiên tri Isaia đã nói khi đề cập về danh Chúa: Thánh Thần Chúa ngự trên tôi, vì Người đã xức dầu cho tôi[11].

Trước đó, Syrillô đã hai lần nói về bí tích của Chúa Thánh Thần. Trong bài giáo lý về Chúa Thánh Thần, ngài nhắc lại rằng “dưới thời ông Môsê, Thánh Thần đã được ban qua việc đặt tay và ông Phêrô cũng ban Chúa Thánh Thần qua việc đặt tay”. Ngài nói tiếp, “ân sủng sẽ đổ xuống trên bạn khi bạn chịu phép rửa. Còn xuống như thế nào thì tôi sẽ kể cho bạn sau”­­[12]. Ở đây chúng ta có bằng chứng về sự khác biệt giữa phép rửa và thêm sức. Dù nghi thức có những thay đổi, nhưng phép thêm sức vẫn là bí tích mà Phêrô đã cử hành bằng việc đặt tay. Trong bài giáo lý về sự phục sinh của thân xác, Syrillô công bố phép thêm sức bằng những lời sau: “Thật vậy, anh em đã được Chúa thanh tẩy sạch tội lỗi nhờ việc rửa bằng nước trong lời Ngài: và anh em trở thành những người tham dự vào chức tư tế theo cách gọi của Chúa Kitô và ghi ấn tín hiệp thông với Chúa Thánh Thần được ban cho anh em”[13].

Thánh Syrillô còn giải thích suy nghĩ riêng của mình về việc Chúa Kitô được xức dầu: “Chúa Kitô không được xức dầu bằng tay con người hay dầu thơm vật chất, nhưng chính Chúa Cha đã xức dầu cho Người, chuẩn bị cho Người làm Đấng Cứu Thế vũ trụ; Chúa Cha đã xức dầu cho Người bằng Chúa Thánh Thần như Thánh Phêrô đã nói: Đức Giêsu xuất thân từ Nazareth, Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người (Cv 10,38). Qua phép rửa, như Chúa Kitô đã thực sự bị đóng đinh, mai táng và sống lại, anh em cũng được ban cho quyền năng cùng chịu đóng đinh, mai táng và sống lại với Người, nhờ lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều tương tự cũng xảy ra nơi dầu thánh: Người được xức dầu hoan lạc, nghĩa là được xức dầu bằng Thánh Thần; gọi như vậy vì Người là nguồn hoan lạc thần linh: nhưng anh em đã được xức dầu thơm để trở thành người dự phần và đồng hành với Chúa Kitô”[14].

Như vậy, đây là một trong những trang quan trọng nhất của thần học bí tích. Trước hết, nó nhấn mạnh đúng bản chất bí tích, sự tham dự đích thực vào ân sủng Chúa Kitô qua việc bắt chước cuộc sống Người. Thứ đến, nó cho thấy cấu trúc gắn kết hài hoà giữa phép thêm sức với phép rửa. Thực vậy, nếu phép rửa giúp chúng ta nên giống Chúa Kitô đã chết và sống lại, thì phép thêm sức giúp chúng ta nên giống Chúa Kitô được xức dầu bằng Thánh Thần. Phép rửa của Chúa Kitô kèm theo việc Chúa Thánh Thần ngự xuống, được coi là tiên báo về cái chết, tiếp theo là sự thiết lập vương quyền của Người; đến lượt, bí tích kép của nước và dầu là sự tham dự của người Kitô hữu vào trong đó. 

Giáo lý tương tự cũng được tìm thấy nơi Theođore Mopsuestia († 428):

Khi bạn nhận được ân sủng qua phép rửa và mặc chiếc áo trắng rực rỡ, giáo hoàng sẽ tiến lên, ghi dấu trên trán bạn và nói: Dấu này được ghi nhân danh Cha, Con và Chúa Thánh Thần. Vì Chúa Giêsu, khi vừa bước ra khỏi nước, đã nhận được Thánh Thần dưới hình chim bồ câu ngự xuống trên Người, nên cũng có thể nói rằng Người đã được xức dầu bằng Chúa Thánh Thần; và cũng giống như những người được xức dầu bởi con người, sẽ gắn bó và không bao giờ rời xa họ, thì anh em cũng được xác nhận trên trán, để anh em cũng được chứng thực bằng dấu chỉ Thánh Thần ngự xuống trên anh em và Ngài đã xức dầu cho anh em (14, 27)[15].

Công thức của Theođore Mopsuestia gợi nhớ tư tưởng của Syrillô Giêrusalem: thêm sức là tham dự vào việc xức dầu của Chúa Kitô bằng Thánh Thần sau khi Người chịu phép rửa. Việc xức dầu này gắn liền với sự hiện diện sâu xa của Chúa Thánh Thần và hơn nữa, Theođore nhấn mạnh đến tính chất không phai mờ của dầu, đề cập đến giáo lý về tích ấn, được áp dụng ở đây cho phép thêm sức.

Học thuyết về thêm sức cũng không có bất kỳ thay đổi nào khi chuyển sang Tây phương. Đối với Ambrôsiô cũng như Syrillô, đó là sự thông ban Chúa Thánh Thần:

Phép rửa theo sau bởi ấn tín thiêng liêng (signaculum), bởi vì sau sự khởi đầu, sự hoàn hảo vẫn còn cần phải đạt tới. Chúa Thánh Thần được tuôn đổ qua lời cầu nguyện của linh mục: Thần khí khôn ngoan và thông hiểu, Thần khí mưu lược và dũng mạnh, Thần khí hiểu biết và đạo đức, Thần khí kính sợ thánh thiêng: Bảy nhân đức của Chúa Thánh Thần và tất cả các nhân đức đều liên quan đến Chúa Thánh Thần, nhưng đây là những nhân đức chính. Đó là bảy nhân đức mà bạn nhận được khi được đóng ấn[16].

Bản văn này cung cấp cho chúng ta một yếu tố mới có thể làm sáng tỏ một điểm vẫn còn mơ hồ. Như đã biết, mục đích của phép thêm sức là sự thông ban Chúa Thánh Thần: nhưng các tân tòng đã chịu phép rửa trong Chúa Thánh Thần. Giờ đây, bản văn ở trên nêu rõ rằng điều còn thiếu sau phép rửa là sự hoàn hảo/hoàn thiện[17] và sự hoàn hảo này bao gồm các ân huệ của Chúa Thánh Thần. Thực vậy, mục đích phép thêm sức không phải là việc tuôn đổ Thánh Thần đã được ban cho qua phép rửa, nhưng tạo ra một luồng năng lực mới nhằm hoàn thiện các năng lực thiêng liêng đã được truyền vào tâm hồn qua phép rửa. Đây là sự khởi động các năng lực siêu nhiên, các năng lực ấy đã có trong phép rửa.

Sự hoàn thiện đời sống thiêng liêng được các giáo phụ diễn tả theo hai cách. Cách thứ nhất đặt trong tương quan với các ân huệ của Chúa Thánh Thần. Thánh Ambrôsiô nói:

Cần nhắc lại rằng bạn đã nhận được ấn tín thiêng liêng, thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và sức mạnh, thần trí suy biết và đạo đức, thần trí kính sợ Thiên Chúa: hãy giữ những gì bạn đã nhận được. Chúa Cha đã ghi dấu trên bạn, Chúa Kitô đã xác nhận bạn và Thánh Thần đã ban cho bạn lời cam kết trong lòng[18].

Sau này, nền thần học sẽ thấy trong các ân huệ của Chúa Thánh Thần dấu chỉ của một tâm hồn hoàn hảo, không nhờ hướng dẫn bởi các nhân đức thông thường, mà được hướng dẫn trực tiếp bởi Chúa Thánh Thần, qua các ân huệ khiến tâm hồn trở nên mềm dẻo trước tác động của Người. Cách thứ hai, đặt các đặc sủng trong tương quan với các cảm thức thiêng liêng. Đây là tư tưởng của Syrillô Giêrusalem. Học thuyết này xuất phát từ Ôrigenê, rất được nền thần bí Đông phương ưa chuộng. Syrillô cho thấy việc xức dầu thêm sức không chỉ được thực hiện trên đầu, mà còn trên các giác quan, tượng trưng cho sự thức tỉnh các cảm thức thiêng liêng:

Trước hết, bạn được xức dầu trên trán, để được giải thoát khỏi sự xấu hổ mà con người đầu tiên, sau khi phạm tội, đã mang nơi mình khắp nơi: và để với khuôn mặt không che phủ, bạn có thể chiêm ngưỡng vinh quang Chúa như trong một tấm gương. Sau đó, đến tai: để bạn có thể tiếp nhận những người khác để hiểu những điều huyền nhiệm thiêng liêng, mà Isaia đã nói: Chúa đã ban cho tôi đôi tai để nghe; và Chúa Giêsu đã phán trong Phúc Âm: ai có tai để nghe thì hãy nghe. Rồi trên mũi, để bạn ngửi thấy mùi hương thần linh và bạn có thể nói: Vì chúng ta là hương thơm của Đức Kitô dâng kính Thiên Chúa, tỏa ra giữa những người được cứu độ[19].

Theo Syrillô, việc xức dầu cuối cùng diễn ra trên ngực:

Và cuối cùng, anh em được xức dầu trên ngực, để khi mặc áo giáp công chính, anh em có thể đứng vững trước những cuộc tấn công của ma quỷ. Thực vậy, như Chúa Kitô, sau khi chịu phép rửa và được Chúa Thánh Thần ngự xuống, đã trỗi dậy từ dưới nước, đã chiến thắng kẻ thù. Vì thế, sau khi chịu phép rửa và được xức dầu thánh, bạn mặc áo giáp của Thánh Thần, hãy chống lại quyền lực kẻ thù[20].

Như vậy, dầu thơm không phải là loại dầu thường, chung chung, nhưng bao gồm sự pha trộn với nhiều chất thơm. Vì thế, sản phẩm được tạo ra do thị hiếu của con người, đánh dấu sở thích của mỗi người. Chủ nhân đặt mình vào sản phẩm ấy và cách người ấy tặng cho người khác. Do đó, dầu được đặc trưng bởi thành phần và đặc tính của nó. Khi tặng dầu thơm cho người khác là tặng chính bản thân mình với tất cả công sức, sở thích, tài năng và tình cảm cá nhân. Sau đó, dầu sẽ chảy xuống người nhận và thấm đẫm mùi hương của người tặng, mang theo dấu ấn của họ. Qua dầu thơm được tặng và đổ ra, một người để lại dấu ấn của mình lên người nhận và do đó, để lại một phần của chính họ và của sự thâm sâu nhất của chính bản thân. Khi tặng dầu thơm, người tặng sẽ bao bọc người nhận mang tính chiếm hữu. Trong bối cảnh này, dấu chỉ hay ấn tín Chúa Thánh Thần được thể hiện qua loại dầu thơm này. Dầu-Thánh Thần để lại dấu ấn trên người được thánh hiến.

Giuse Phạm Quốc Điêm, Bí tích Thêm sức, NXB Đồng Nai, Đà Nẵng 2025, 226-241.

-------------------------

[1] Nghi thức thánh hiến dầu thánh.
[2] Liên quan đến việc xức dầu trước khi rửa tội, Thánh Ambrôsiô đã nói: “Bạn đã được xức dầu như một vận động viên của Chúa Kitô để chuẩn bị chiến đấu chống lại thế gian này” Ambrôsiô, De sacramentis, I, 2, 4: PL 16, 419.

[3] Mêtôđiô Ôlimpô, Simposio, X, 2: SCh 95, 289. Ngài tiếp tục nói rằng, lòng thương xót của Chúa sẽ xoá tan sự chết và tội lỗi, mang lai lợi ích cho nhân loại và nuôi dưỡng ánh sáng cho tâm hồn. Tất nhiên cũng có loại dầu xấu, đã hỏng, không nên sử dụng vì “một con ruồi chết làm thối cả bình dầu thơm” (Gv 10,1).

[4] Cf. C. Valenziano, Liturgia e antropologia, EDB, Bologna 1997, 245-257.
[5] St 27,27 nói rằng quần áo của Giacóp có mùi như lúa mì, tượng trưng cho sự chúc lành mà Chúa dành cho ông.

[6] Thánh Kinh chỉ nhắc đến lần xức dầu cho Êlisa, khi Chúa phán với Êlia: “ngươi sẽ xức dầu tấn phong nó [Êlisa] làm ngôn sứ thay cho ngươi” (1 V 19,6). Đối với Isaia (Is 61,1) thật khó để xác định liệu đó có phải là nghi lễ xức dầu hay không. Cf. E. Lanne, «L’acqua e l’unzione nelle Chiese Orientali», in I simboli dell’iniziazione cristiana, a cura di G. Farnedi, Analecta Liturgica 7, Roma 1983, 148; Pietro Sorci, «Per una mistagogia dei simboli rituali. La solenne benedizione del crisma in Oriente e in Occidente», nel numero monografico Per celebrare la confermazione di Rivista Liturgica 37 (1989) 2-3, 271. L. Girardi cho rằng: «Ngay cả khi các tiên tri không được xức dầu theo nghĩa thực sự, họ vẫn được gọi là “những người được xức dầu” (cf. Is 61,1), vì được thánh hiến và trao cho sứ mạng cụ thể», L. Girardi, Rinati nell’acqua e nello Spirito, Dehoniane, Naples 1984, 229.

[7] Trích trong J. Daniélou, Bibbia e liturgia. La teologia biblica dei Sacramenti e delle feste secondo i Padri della Chiesa, Milano 19662, 153.
[8] Pseudo-Macariô, Omelia 17, 1.

[9] «Hoc sancto chrismate digni habiti, vocamini Christiani, veritatem quoque nominis huius per regnerationem assequentes. Prius enim quam haec vobis gratia collata esset, eo nomine proprie digni non eratis, sed eo contendebatis ut essetis Christiani. Nosse autem vos oportet chrismatis [seu unctionis] huius in Veteri Scriptura sombolum exstare. Quando enim Moyses divinum cum fratre communicavit mandatum, summum eum sacerdotem constituens, ablutum aqua perunxit: vocatusque est christus, ab chrismate videlicet [seu unctione] figurativa. Sic et Salomonem summus pontifex in regem promovens, unxit eum postquam lavisset in Gihon. At haec in figura contingebant illis: vobis autem non secundum figuram, sed in veritate; siquidem a Spiritu sancto vere inuncti estis. Principium vestrae salutis est Christus» Syrillô Giêrusalem, Catechesis XXI, Mystagogica III, 5-6: PG 33, 1092-1093.
[10] «Post haec utique ascendisti ad sacerdotem: considera quid secutum sit. Nonne illud quod ait David. Sicut unguentum in capite, quod descendit in barbam, barbam Aaron? Hoc est unguentum, de quo et Salomon ait: Unguentum exinanitum est nomen tuum, propterea adolescentulae dilexerunt te, et attraxerunt te. Quantae hodie renovatae animae dilexerunt te, Domine Jesu, dicentes: Attrahe nos post te, in odorem vestimentorum tuorum currimus, ut odorem resurrectionis haurirent! Quare hoc fiat intellige, quia oculi sapientis in capite ejus. Ideo in barbam defluit, id est, in gratiam juventutis; ideo in barbam Aaron, ut fias electum genus, sacerdotale, pretiosum; omnes enim in regnum Dei et in sacerdotium ungimur gratia spiritali» Ambrôsiô, De mysteriis, VI, 29-30: PL 16, 398.

[11] Syrillô Giêrusalem, Catechesis XXI, Mystagogica III, 1: PG 33, 1088-1089.
[12] Syrillô Giêrusalem, Catechesis XVI, de Spiritu Sancto I, 26: PG 33, 956.
[13] «Deinde vero quomodo mundati estis a peccatis per Dominum lavacro aquae in verbo: Et quomodo sacerdotum in morem appellationis Christi participes facti estis; quove modo signaculum vobis communicationis sancti Spiritus sit datum» Syrillô Giêrusalem, Catechesis XVIII, de carnis resurrectione 33: PG 33, 1055.
[14] Syrillô Giêrusalem, Catechesis XXI, Mystagogica III, 2: PG 33, 1089.
[15] Théodore de Mopsueste, Les Homélies catéchétiques, trad. Raymond Tonneau et Robert Devreesse, Biblioteca Apostolica Vaticana, Città del Vaticano 1949, 457-459.

[16] «Sequitur spiritale signaculum quod audistis hodie legi; quia post fontem superesi ut perfectio fiat; quando ad invocationem sacerdotis Spiritus sanctus infunditur, Spiritus sapientiae et intellectus, Spiritus consilii atque virtutis, Spiritus cognitionis atque pietatis, Spiritus sancti timoris: septem quasi virtutes Spiritus. Et omnes quidem virtutes ad Spiritum pertinent: sed istae quasi cardinales sunt, quasi principales. […] Istae sunt septem virtutes quando consignaris» Ambrôsiô, De sacramentis, III, 1, 8-9: PL 16, 434.

[17] Thánh Síprianô cũng đã nói: «Quod nunc quoque apud nos geritur, ut qui in ecclesia baptizantur praepositis ecclesiae offerantur et per nostram orationem ac manus impositionem spiritum sanctum consequantur et signaculo dominico consummentur Điều này đang xảy ra giữa chúng ta ngay bây giờ, để những người mới được rửa tội phải đến trình diện các đấng thủ lãnh Giáo Hội để nhận Chúa Thánh Thần qua lời khẩn nguyện và việc đặt tay để hoàn thiện nhờ ấn tín của Chúa» Síprianô, Epistola 73, 9: CSEL III, 2, 785.

[18] «Unde repete quia accepisti signaculum spiritale, spiritum sapientiae et intellectus, spiritum consilii atque virtutis, spiritum cognitionis atque pietatis, spiritum sancti timoris: et serva quod accepisti. Signavit te Deus Pater, confirmavit te Christus Dominus; et dedit pignus Spiritus in cordibus tuis» Ambrôsiô, De mysteriis, VII, 42: PL 16, 402-403.

[19] «Ac primum in fronte peruncti estis, ut ab ea verecundia liberaremini, quam primus homo transgressor ubique circumferebat: utque retecta facie gloriam Domini tanquam in speculo contemplaremini. Deinde in auribus: ut autres acciperetis divinorum mysteriorum audientes, de quibus Isaias dicebat: Et addidit mihi Dominus auriculam ad audientdum; Dominusque Iesus in Evangeliis: Qui habet aures ad audiendum, audiat. Postes ad nares: ut divinum amplectantes unguentum diceretis: Christi bonus odor sumus Deo, in iis qui salvi fiunt» Syrillô Giêrusalem, Catechesis XXI, Mystagogica III, 4: PG 33, 1091.
[20] Ibid., 1092.

Tác giả: Lm. Giuse Phạm Quốc Điêm

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây