
Hiếm có nhân vật nào trong Giáo hội Tây phương lại nhận được sự mến mộ sâu rộng như Thánh Phanxicô Assisi (1181–1226). Thế nhưng, đàng sau những giai thoại lãng mạn và có chút huyền bí thì con người thực của Phanxicô có lẽ cũng ẩn mình chẳng kém gì người đồng thời với ngài: Thánh Đa Minh Guzman ( 1170–1221). Trong tâm tưởng của đại đa số chúng ta, Phanxicô là vị thánh yêu thiên nhiên vĩ đại, người trò chuyện cùng chim chóc, thuần hóa sói rừng và là chàng hiệp sĩ hết lòng tôn thờ “Nữ hoàng Nghèo khó”. Còn khi nhắc đến Đa Minh, người ta lại dễ liên tưởng ngay đến hình ảnh một Ủy viên Tòa tra. Trở lại với thực tế, Phanxicô đúng là người yêu thiên nhiên và quý trọng sự nghèo khó, dù cốt lõi thông điệp của ngài còn sâu xa hơn thế. Trong khi đó, Đa Minh chắc chắn không phải là Ủy viên Tòa tra, bởi cơ quan này thậm chí còn chưa ra đời cho mãi đến một thập kỷ sau khi ngài qua đời.
Sự thật về hai vị thánh cùng các Dòng tu do các Ngài sáng lập tuy bớt phần ly kỳ, nhưng lại mang tầm vóc quan trọng hơn nhiều so với những giai thoại vốn có phần huyền bí. Hai ngài đã mang đến cho Giáo hội đầu thế kỷ XIII đúng điều mà thời đại ấy đang khát khao mãnh liệt: một lối sống Tin Mừng đơn sơ và trực diện hơn. Phanxicô và Đa Minh đã chứng minh rằng: con người hoàn toàn có thể thỏa mãn nguyện vọng tâm linh cháy bỏng đó mà vẫn giữ vững sự hiệp nhất trọn vẹn trong lòng Giáo hội.
Như C.S. Lewis từng nhận xét: “Không điều gì khiến con người thời Trung cổ thích thú và làm giỏi hơn việc phân loại, hệ thống hóa mọi thứ.” Và một trong những nền nếp được họ hệ thống hóa chỉn chu vào đầu thế kỷ XIII chính là đời sống tu trì. Từ thế kỷ IX, giới đan sĩ đã được khống chế trong khuôn khổ Luật Thánh Biển Đức; đến thế kỷ XI, giới linh mục cùng giáo sĩ tiếp tục được đưa vào nếp cũ theo Luật Thánh Augustinô. Giáo hội ngày càng siết chặt các quy định pháp lý nhằm bảo đảm bất kỳ ai muốn dấn thân vào đời sống tu trì đều phải thuộc về một khung giáo luật rõ ràng. Những cá nhân muốn sống lòng nhiệt thành đạo đức ngoài các khuôn khổ giáo luật thường bị coi là mối đe dọa nguy hiểm, thậm chí bị khép vào tội lạc giáo. Bất chấp những nỗ lực của Đức Giáo hoàng Innôcentê III nhằm mở đường cho các hình thức tu trì đơn sơ mới phát triển trong Giáo hội, Công đồng Laterano IV (1215) vẫn ra sắc lệnh: cấm thành lập bất kỳ dòng tu mới nào nếu không dựa trên nền tảng một Tu luật sẵn có.
Thế nhưng, rõ ràng thực tế vẫn để lại một khoảng trống lớn. Đông đảo tín hữu bất mãn với Giáo hội chính thống đã dễ dàng xiêu lòng trước các nhà thuyết giáo ly khai và lạc giáo. Mức độ am hiểu giáo lý quá thấp, ngay cả trong hàng giáo sĩ, khiến dân chúng rất dễ bị lay động trước những tà thuyết xa lạ. Khát khao canh tân tâm linh, vốn chứa đựng tiềm năng cho một cuộc phục hưng Tin Mừng vĩ đại, dường như đang bị lãng phí bên lề Giáo hội, hoặc tệ hơn là hoàn toàn ngoài tầm ảnh hưởng của Giáo hội.
Nhờ sự bảo trợ mạnh mẽ từ các đời Giáo hoàng kế tiếp, đặc biệt là Đức Innôcentê III và Đức Grêgôriô IX, Phanxicô và Đa Minh đã thành lập các Dòng tu chính thức trong Giáo hội. Bằng những con đường khác nhau, linh đạo của hai Dòng tu này đã đáp ứng trọn vẹn nhu cầu về một lối sống tu trì tự do, thoát khỏi những nghi thức gò bó của chốn đan viện. Sức hút mãnh liệt từ các Dòng do hai ngài sáng lập thể hiện rõ qua những con số phát triển thần tốc thời kỳ đầu. Ngay khi Phanxicô còn sống, một Tổng Tu nghị của Dòng đã quy tụ hơn 5.000 tu sĩ; và đến giữa thế kỷ XIII, chỉ riêng tại Anh đã có khoảng 1.250 tu sĩ Phanxicô. Về phía Dòng Đa Minh, chỉ sau sáu năm thành lập cộng đoàn tại Paris, số tu sĩ ở đây vào năm 1223 đã lên tới 120 người; tính đến giữa thế kỷ, tổng số tu sĩ Đa Minh ước tính đạt khoảng 13.000 người, và cán mốc 20.000 vào cuối thế kỷ.
Những nhà thuyết giáo lưu động
Nét cách tân đột phá của hai Dòng tu này thể hiện rõ qua phản ứng của các giáo sĩ theo khuynh hướng truyền thống. Jacques de Vitry, dù không hề thiếu thiện cảm, cũng phải nhận định rằng lối sống của các tu sĩ Phanxicô “xem ra rất nguy hiểm theo góc nhìn của tôi. Bởi lẽ không chỉ những người từng trải, mà ngay cả các thanh niên trẻ tuổi, chưa chín chắn, những người đáng lý phải được rèn giũa và thử thách một thời gian trong kỷ luật đan viện, lại được sai đi khắp thế gian từng hai người một.” Về phần Thánh Đa Minh, tư liệu xưa ghi lại: “Ngài thường rảo bước khắp nơi và sai những anh em đầu tiên đi rao giảng, dù ngài chỉ có vỏn vẹn vài người, học vấn chẳng được bao nhiêu và hầu hết còn quá trẻ.”
“Một số tu sĩ Dòng Xitô đã ngỡ ngàng trước điều này, đặc biệt là sự tự tin đến kinh ngạc của ngài khi sai những tu sĩ trẻ như thế đi thuyết giáo. Họ tự đặt mình vào thế rình xem các thanh niên này, cốt tìm ra bất kỳ sơ hở nào trong lời nói hay việc làm của họ.”
Suốt nhiều thế kỷ, đời sống đan viện luôn được coi là hình mẫu lưu giữ (ít nhất là về mặt biểu tượng) sự trọn hảo của Nước Trời thông qua sự trọn hảo của cấu trúc và Tu luật. Kỷ luật nghiêm ngặt của đời sống dòng tu được thiết kế như tấm lá chắn chống lại tính yếu đuối và sự mù quáng của con người. Môi trường nội vi đan viện tách biệt cộng đoàn khỏi những cám dỗ tục lụy. Một lối sống có quy củ, liên tục được giám sát, cân bằng và không xao nhãng sẽ giữ cho con người tránh xa cái ác, đồng thời tạo môi trường an toàn tuyệt đối để rèn luyện nếp sống đạo đức và các nhân đức. Các ứng sinh phải trải qua quá trình kiểm tra gắt gao trước khi được tuyên khấn, và chỉ những người thực sự trưởng thành mới được phép sống đời tự lập, dù là dưới hình thức ẩn sĩ hay nhà thuyết giáo.
Thế nhưng, các tu sĩ của Thánh Phanxicô và Thánh Đa Minh lại từ bỏ hầu hết các biện pháp theo kiểu phòng ngừa ấy. Niềm tự hào của các tu sĩ Phanxicô, điều mà Matthew Paris, nhà chép sử Dòng Biển Đức người Anh, đã nhắc lại trong sự kinh hãi chính là: toàn thể thế giới này chính là nội vi đan viện của họ. Ít nhất là trong giai đoạn đầu, cả hai Dòng đều thu nhận ơn gọi mới không chút phân biệt, cũng chẳng đòi hỏi thời gian thử luyện nào nơi tập viện. Ngay khi vừa gia nhập, họ đã có thể lập tức được sai đi vào giữa lòng nhân thể.
Hình mẫu cốt lõi của cả hai Dòng là một Đức Giêsu bôn ba không có nơi gối đầu, cùng các tông đồ được Ngài sai đi khắp ngả để loan báo Tin Mừng, sống nhờ vào lòng hiếu khách của người đời trên từng chặng đường. Đáp lại lời thuyết phục gia nhập Dòng từ một vài đan sĩ, một tập sinh Dòng Đa Minh đã thẳng thắn đáp lại: “Khi đọc thấy Chúa Giêsu Kitô không phải là một đan sĩ áo trắng hay đan sĩ áo đen, mà là một nhà thuyết giáo nghèo khó, tôi thà bước theo bước chân của Ngài còn hơn bước theo bất kỳ ai khác.”
Sự dấn thân triệt để và không thỏa hiệp theo bước chân Đức Giêsu Kitô gần như là mối bận tâm duy nhất xuyên suốt đời sống Thánh Phanxicô. Bước ngoặt quyết định trong việc khám phá ơn gọi của ngài diễn ra vào năm 1208, khi ngài lắng nghe bài Tin Mừng Mátthêu chương 10 trong Thánh lễ, đoạn Tin Mừng thuật lại việc Chúa sai các tông đồ lên đường loan báo Nước Trời mà không mang theo tiền bạc hay lương thực. Thánh Phanxicô liền thốt lên: “Đó chính là điều tôi khao khát!”, và ngay lập tức đem Tin Mừng ra thực hành theo đúng nghĩa đen. Nhận thức rõ rằng nhiều người viện cớ sống theo Tin Mừng rốt cuộc lại sa vào bẫy của những ý thích ngông cuồng cá nhân, nên ngay khi bắt đầu có các môn đệ theo chân, ngài đã chủ động tìm đến Rôma để xin Đức Giáo hoàng phê chuẩn lối sống của mình và tự nguyện hứa phục tùng Đức Thánh Cha. Tuy nhiên, dù tuyệt đối trung thành với thể chế Giáo hội, ngài vẫn kiên quyết cưỡng lại mọi áp lực buộc ngài phải nhận một Tu luật có sẵn. Lời ngài còn ghi dấu: “Thưa anh em! Thiên Chúa đã gọi tôi đi theo con đường đơn sơ và đã chỉ cho tôi con đường ấy. Tôi không muốn anh em xướng lên cho tôi bất kỳ Tu luật nào, dù là của Augustinô, Bênađô hay Biển Đức. Chúa đã phán rằng Ngài muốn tôi trở thành một kiểu 'người điên' mới trên thế gian này.” Thay vì chọn sự an toàn cùng vị thế xã hội của giới đan sĩ hay giáo sĩ, Thánh Phanxicô chấp nhận dấn thân vào mạo hiểm để đơn thuần sống theo Tin Mừng. Với ngài, Tu luật không là gì khác ngoài chính bản văn Tin Mừng; và ngài quả quyết rằng bất kỳ sự giảm chế nào đối với Tu luật cũng đồng nghĩa với việc làm biến chất Tin Mừng. Trước lúc đi xa, ngài đã nỗ lực buộc các môn đệ phải tuân giữ Tu luật một cách nguyên nét nguyên bản, tuyệt đối không được thêm bớt hay giải thích lại. Trong tâm khảm ngài, khi Thiên Chúa đã phán thì việc duy nhất còn lại là tuân phục.
Tính triệt để theo nghĩa đen của Thánh Phanxicô còn thể hiện qua việc ngài khước từ buộc các tu sĩ vào bất kỳ quy tắc ăn chay kiêng bớt khắt khe nào như thói quen ở các Dòng khác. Họ chỉ cần giữ các kỳ ăn chay chung của Giáo hội toàn cầu, còn ngoài ra phải tuân theo huấn lệnh Tin Mừng: ai dọn cho ăn gì thì ăn nấy. Ngài cũng nổi tiếng với cách hiểu rất sát nghĩa lệnh truyền “đừng lo lắng cho ngày mai”: ngài thậm chí không cho phép người phụ trách bếp ngâm rau từ tối hôm trước!
Thế nhưng, việc bước theo Đức Giêsu đối với Thánh Phanxicô luôn có một tâm điểm thiết yếu. Ngài viết: “Tôi, người anh em Phanxicô nhỏ bé, muốn sống theo cuộc đời và sự nghèo khó của Đức Giêsu Kitô Rất Cao của chúng ta cùng Thánh Mẫu Rất Thánh của Ngài, và kiên trì trong đó cho đến cùng.”
Các tu sĩ Phanxicô thế hệ sau thường hiểu sự nghèo khó cốt lõi là việc từ bỏ tài sản, nhưng bản thân Thánh Phanxicô lại coi đó trước hết là việc từ bỏ ý riêng. Khước từ tài sản chỉ là một phần trong một tiến trình tự hủy quyết liệt hơn nhiều. Ngài muốn chính mình và các anh em trở thành những “Anh Em Hen Mọn” (Friars Minor), những con người bé mọn; họ phải khước từ mọi phương thế thông thường mà người đời vẫn dùng để bảo vệ quyền lợi và tham vọng cá nhân. Họ phải vâng lời không chỉ bề trên, không chỉ lẫn nhau, mà còn vâng phục “mọi loài thụ tạo nhân loại”, và thậm chí cả thú dữ. Bản thân Thánh Phanxicô còn đi xa hơn khi muốn vâng phục hết thảy mọi sự. Có lần mái nhà bị cháy, ngài ôm lấy tấm da cũ dùng làm chăn rồi bước ra ngoài; sau đó ngài quay lại xin lỗi vì đã “trót trộm” tấm da của “anh Lửa”!
Mối phúc thật
Thánh Phanxicô chắc chắn mang một niềm trân trọng sâu sắc đối với muôn loài thụ tạo của Thiên Chúa và nhận ra hình bóng Đấng Tạo Hóa phản chiếu trong tất cả chúng. Nhưng chìa khóa mở ra mối tương quan giữa ngài với thiên nhiên lại nằm ở khao khát: sống hoàn toàn rộng mở, khước từ mọi sự bảo vệ. Ngài muốn đón nhận sự Quan Phòng của Thiên Chúa cũng như Lời Ngài theo đúng nghĩa đen. Bất cứ điều gì xảy đến với chúng ta trong đời này đều là món quà Thiên Chúa ban tặng, và việc coi bất cứ điều gì là điều bất hạnh hay tồi tệ chính là biểu hiện của ý riêng.
Sự nghèo khó của các Anh Em Hèn Mọn nhằm đặt họ hoàn toàn phó thác vào lòng thương xót của tha nhân và những trớ trêu của hoàn cảnh. Họ phải đứng ngoài mọi vị trí có thể cho phép họ can thiệp quyền lực hay thao túng. Họ phải đi xin ăn, hoặc kiếm sống bằng những công việc chân tay; nhưng Thánh Phanxicô nhấn mạnh rằng đó chỉ được là những công việc không khiến họ cảm thấy mình trói buộc hay thượng đẳng hơn bất kỳ ai. Và bởi vì tài sản vốn mang lại quyền lợi, từ đó tạo nên tấm lá chắn bảo vệ con người trước những biến cố đời sống, nên Thánh Phanxicô muốn các tu sĩ của ngài không sở hữu bất cứ thứ gì. Ban đầu, ngài cùng các bạn đồng hành thực sự không có lấy một chốn dung thân thuộc về mình. Chẳng bao lâu sau, họ bắt đầu có được những mái nhà chung, nhưng Thánh Phanxicô kiên quyết rằng những ngôi nhà ấy tuyệt đối không bao giờ được xem là tài sản tư hữu. Bất kỳ ai cũng có quyền đuổi họ ra ngoài, và bất kỳ ai muốn bước vào đều phải được rộng mở đón chào, thậm chí trộm cắp cũng được ngài trân trọng đưa vào danh sách khách mời.
Lối sống hoàn toàn rộng mở trước những ngẫu nhiên của cuộc sống và trước sự Quan Phòng của Thiên Chúa không phải là một giấc mơ lãng mạn viển vông. Người tu sĩ, khi từ bỏ mọi sự bảo vệ trước cuộc đời, phải sẵn sàng chia sẻ trọn vẹn số phận của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã bị trao nộp vào tay người đời. Con đường của một đức tin trọn vẹn giữa thế gian này không gì khác hơn chính là con đường thập giá.
Thánh Phanxicô đã diễn tả ý tưởng của mình một cách hết sức sinh động trong lời huấn thị mà ngài đọc cho Thầy Lêô, một trong những người bạn đồng hành trong những ngày đầu chép lại:
“Thế nào là niềm hạnh phúc trọn hảo? Giả như có người loan báo rằng tất cả các Giáo sư của Đại học Paris đều đã gia nhập Dòng: đó chưa phải là niềm hạnh phúc trọn hảo. Giả như tất cả các đấng bậc từ bên kia dãy An-pơ, toàn bộ các tổng giám mục, giám mục, và cả Vua Pháp lẫn Vua Anh cũng đều gia nhập Dòng: đó vẫn chưa phải là niềm hạnh phúc trọn hảo. Giả như các anh em của tôi đi đến với những người ngoại giáo và quy tụ họ về với đức tin; hay giả như tôi được Thiên Chúa ban ân sủng chữa lành mọi bệnh nhân và làm nhiều phép lạ: tôi nói cho anh biết, hạnh phúc thật không nằm ở bất kỳ điều nào trong số đó.
Vậy hạnh phúc trọn hảo là gì? Tôi từ Perugia trở về và tới đây vào đêm muộn. Trời mùa đông giá rét, đường xá lầy lội, lạnh đến mức những giọt nước đóng thành băng nơi gấu áo dòng liên tục va vào chân làm tôi chảy máu. Toàn thân đầy bùn đất, lạnh giá và phủ kiệt băng tuyết, tôi gõ cửa. Sau khi tôi đập cửa và kêu lớn một hồi lâu, một người anh em bên trong ra hỏi: ‘Ai đó?’ Tôi đáp: ‘Anh em Phanxicô đây.’ Người đó bảo: ‘Đi đi, giờ này không phải lúc đi lại. Anh không được vào đây.’ Tôi nài xin, nhưng người đó vặn lại: ‘Đi đi. Anh chỉ là một kẻ ngu ngốc vô học. Anh không vào đây được đâu. Ở đây chúng tôi đã có đủ người tốt rồi, không cần anh nữa.’ Tôi lại đứng trước cửa van xin: 'Vì tình yêu Thiên Chúa, xin cho tôi trú tạm chỉ đêm nay thôi.' Nhưng người đó quát: 'Tôi không cho. Hãy đến nhà các tu sĩ Dòng Croziers mà xin.' Tôi nói với anh, nếu lúc đó tôi vẫn kiên nhẫn chịu đựng mà không chút nhẫn tàn hay tức giận, thì đó chính là nơi kết tinh niềm hạnh phúc trọn hảo, nhân đức thật và sự rỗi linh hồn tôi.”
Cả Thánh Phanxicô lẫn bất kỳ ai thời đó đều không biết làm cách nào để thể chế hóa một thị kiến đơn sơ như vậy thành một Dòng tu chính thức. Ngài ngày càng phải cậy dựa vào người khác để tổ chức cộng đoàn môn đệ, và ngài đã chứng kiến, trong sự nhẫn nại pha lẫn chút ngậm ngùi, những sự thỏa hiệp cần thiết để cứu Dòng tu khỏi thảm họa hỗn loạn. Những bất đồng về định hướng phát triển Dòng là một trong những thánh giá nặng nề nhất đối với ngài. Tấm thân kiệt quệ vì bệnh tật, đôi mắt gần như mù lụa, vừa được tôn kính nhưng ở góc độ nào đó cũng bị các môn đệ phớt lờ, Thánh Phanxicô đã nhận được dấu chỉ cuối cùng về sự đồng hình đồng dạng với cuộc Thương Khó của Chúa mình hai năm trước khi ngài qua đời: chính thân xác ngài đã được in năm dấu đinh thánh.
Dù di sản thừa hưởng từ ngài có muôn vàn khó khăn, các môn sinh vẫn nhận ra nơi Thánh Phanxicô một mẫu mẫu sống động của Đức Kitô. Mặc dù họ ngày càng trở nên ổn định, gắn chặt với tu viện và sự nghèo khó của họ bắt đầu mang tính thủ tục pháp lý nhiều hơn, niềm tự hào của họ vẫn là một đời sống nghèo khó và vâng phục nghiêm ngặt, quyết liệt hơn bất kỳ ai khác trong ơn gọi tu trì. Và dù đã trở thành những giáo sĩ uyên bác, dấn thân vào các công trình học thuật lẫn tông đồ như bao người, tư cách cốt lõi mà họ đòi hỏi ở chính mình vẫn là việc mô phỏng cuộc đời các tông đồ để xứng đáng với sứ mạng tông đồ. Dù thực tế không còn trọn vẹn như thời ban đầu, họ chưa bao giờ quên giấc mơ, hay 'sự điên rồ thánh thiện’, của vị Sáng lập đầy ơn phước.
Sự nghèo khó và Thần học
Thánh Đa Minh là một mẫu người rất khác, và ngài đã sáng lập một Dòng tu mang sắc thái hoàn toàn khác biệt. Ngay từ thuở nhỏ, ngài đã được đào tạo để phục vụ Giáo hội; và yếu tố quyết định ơn gọi của ngài chính là sự nhạy cảm sâu sắc trước những nỗi đau của con người. Thời còn là sinh viên tại Tây Ban Nha, ngài từng gây chú ý khi bán đi những cuốn sách đắt giá vốn vô cùng cần thiết cho việc học của mình để lấy tiền nuôi người chết đói. Sau này, khi là một kinh sĩ (chức danh trong hàng giáo sĩ) tại Osma, tư liệu kể lại rằng Thiên Chúa đã ban cho ngài ân sủng đặc biệt là biết khóc thương cho những kẻ tội lỗi cùng những người đau khổ; ngài luôn khao khát họa lại sự tự hiến của Đức Giêsu bằng cách tiêu hao trọn vẹn đời mình để chinh phục các tâm hồn về cho Chúa.
Tại Osma, Thánh Đa Minh khép mình trong đời sống ẩn dật và chiêm niệm. Nhưng vào năm 1203, ngài cùng Đức Giám mục của mình là Diego d'Azevedo tham gia một phái đoàn hoàng gia đến miền Bắc nước Đức. Trên đường đi, họ băng qua Toulouse, một trong những thủ phủ của phái lạc giáo Cathars. Phát hiện ra vị chủ nhà nơi họ trọ chân là một tín đồ lạc giáo, Thánh Đa Minh đã thức trọn đêm tranh luận và thuyết phục ông ta trở về với đức tin chính thống.
Hai năm sau, họ lại thực hiện chuyến đi ấy một lần nữa, và lần này có lẽ đã gặp Tổng Giám mục Lund là Andrew Sunesen, người đang lên kế hoạch cho một chương trình truyền giáo dọc bờ biển Baltic. Đức Giám mục Diego dường như muốn xin từ nhiệm tòa giám mục để dấn thân vào sứ mạng này, nhưng Đức Giáo hoàng đã truyền lệnh cho Ngài trở về lại giáo phận.
Trên đường từ Rôma trở về vào đầu xuân năm 1206, họ tình cờ gặp ba đan sĩ Dòng Xitô là những người được Đức Giáo hoàng giao trách nhiệm dẫn đầu phong trào thuyết giáo chống lạc giáo tại miền Nam nước Pháp. Các đan sĩ này đang nản chí vì thất bại liên tiếp và có ý định từ bỏ sứ mạng. Nhận thấy điều đó, Đức Giám mục Diego đã gợi ý họ thay đổi phương cách: Sở dĩ phái lạc giáo thu phục được đông đảo quần chúng là vì họ tạo được hình ảnh đơn sơ, khắc khổ, gần với các tông đồ nguyên thủy hơn hẳn giới giáo sĩ chính thức. Do đó, các tín hữu Công giáo trung thành muốn đối thoại thành công cũng phải đáp lại bằng chính tinh thần ấy. Tự nguyện đứng ra dẫn đường, Đức Giám mục Diego đã thuyết phục các nhà truyền giáo từ bỏ vị thế cùng sự an toàn gắn liền với phẩm trật chính thức, để cất bước đi bộ, rao giảng Tin Mừng và xin ăn từng nhà như các tông đồ đã làm khi xưa.
Đức Giám mục Diego không thể ở lại đó lâu vì phải trở về giáo phận. Sau mười tám tháng liên tục bôn ba giữa hai nơi, nGÀI qua đời vào cuối năm 1207. Những nhà thuyết giáo khác đến rồi lại đi, nhưng Thánh Đa Minh thì kiên định không bao giờ ngoảnh lại.
Đó chính là khởi đầu cho ơn gọi thực sự của Thánh Đa Minh với tư cách một nhà thuyết giáo. Sau khi quy tụ được một số môn sinh sẵn sàng cam kết dấn thân, ngài đã thành lập Dòng Anh Em Thuyết Giáo (Order of Preachers - OP), ban đầu là một tu viện cấp giáo phận tại Toulouse, sau đó, vào năm 1216, trở thành một Dòng tu quốc tế được Đức Giáo hoàng chính thức phê chuẩn. Để đáp ứng quy định của Công đồng Laterano IV, ngài cùng các anh em phải chọn một Tu luật sẵn có; và không có gì kinh ngạc khi anh em chọn Luật Thánh Augustinô, Tu luật vốn dành cho giới ‘kinh sĩ’. Tuy nhiên, các tu sĩ thuyết giáo dẫu sao vẫn là một Dòng tu mang sứ mạng rất khác so với các kinh sĩ truyền thống.
Giá trị tối thượng trong đời sống của anh em Dòng Thuyết Giáo được đặt vào nhu cầu tâm linh của tha nhân. Dòng tu được thành lập với mục đích “để hữu ích cho linh hồn tha nhân”. Các kỷ luật tu viện truyền thống mà các tu sĩ duy trì đều phải xếp sau sứ mạng tông đồ giữa thế gian. Trong các cộng đoàn của mình, họ đã mở rộng đến mức chưa từng có nguyên tắc 'chuẩn chước’ (dispensation), tức thẩm quyền cho phép gác lại một số quy tắc kỷ luật vì lý do sứ vụ. Sự chuẩn chước không còn là sự nhượng bộ bất đắc dĩ cho những giới hạn cá nhân, mà trở thành ưu tiên triệt để cho công cuộc rao giảng. Lịch trình sinh hoạt tại tu viện tuyệt đối không được phép cản trở việc giảng thuyết hay việc học thuật vốn là nền tảng bắt buộc đi kèm. Và dĩ nhiên, nhiều tu sĩ đã dành phần lớn thời gian ở bên ngoài tu viện, rảo bước khắp nơi từng hai người một để loan báo Tin Mừng.
Dưới góc nhìn của đời sống tu trì truyền thống, các tu sĩ Đa Minh đang đối mặt với một rủi ro cực kỳ lớn khi tự đặt mình trước những cám dỗ và xao nhãng của thế gian. Nhưng sứ mạng cấp bách đến mức không thể chờ cho đến khi các tu sĩ cảm thấy bản thân đã hoàn toàn an toàn. Sự khôn ngoan mang tính phòng thủ của nếp sống đan viện xưa, và ở một khía cạnh nào đó, cả quá trình huấn luyện tri thức lẫn tâm linh, giờ đây đã được trao phó trọn vẹn cho một niềm tin tưởng tuyệt đối nơi Thiên Chúa.
Chú thích của người dịch: Tòa Tra (tiếng Anh: Inquisition, tiếng Pháp: L'Inquisition, Latinh: Inquisitio) là một cơ quan tư pháp đặc biệt do Giáo hội Công giáo phê chuẩn và thành lập vào thời Trung cổ (khoảng thế kỷ XIII) nhằm điều tra, xét xử và ngăn chặn các thuyết lạc giáo (đặc biệt là phái Cathars/Albigenses và Waldenses) để bảo vệ sự thống nhất đức tin.
Vào thế kỷ XIII, nhờ nền tảng trí thức uyên bác, am tường thần học và lối sống nghèo khó tông đồ, các tu sĩ Dòng Đa Minh (cùng với Dòng Phanxicô) thường được Tòa Thánh giao đảm nhận vai trò Thẩm phán Tòa Tra (Inquisitors). Mục tiêu ban đầu của Thánh Đa Minh và các anh em là thuyết giáo, tranh luận thần học và thuyết phục người lạc giáo trở về với Giáo hội bằng lý lẽ và tình thương. Tuy nhiên, khi cơ quan này bị chính quyền phong kiến / thế quyền can thiệp và sử dụng như một công cụ chính trị (điển hình là Tòa Tra Tây Ban Nha dưới thời các vua Công giáo), nó đã để lại nhiều vết trầm tích lịch sử phức tạp.
Tác giả: Đức Hữu chuyển ngữ
Nguồn tin: christianhistoryinstitute.org