
Suốt gần một thế kỷ qua, không ít ngôi nhà thờ Công giáo rơi vào vòng xoáy của những tranh luận kiến trúc từ trào lưu Hiện đại hóa biến thánh đường thành “nhà xưởng”, trào lưu thập niên 70 coi nhà thờ chỉ là “mái che không gian”, cho đến xu hướng tái định nghĩa thánh đường như một “phòng khách gia đình” thế tục.
Qua bài viết này, tác giả Denis R. McNamara khẳng định: Nhà thờ không đơn thuần là một nơi hội họp hay một phông nền cho các hành vi phụng vụ, mà chính là một Bí tích, một hình ảnh hữu hình tiên báo về Thân thể Nhiệm thể Vinh hiển của Đức Kitô và Thành Giê-ru-sa-lem Trên Trời.
Bằng việc phân tích sâu sắc các Sách Phụng vụ (đặc biệt là Nghi thức Cung hiến Thánh đường và Bàn thờ - ODCA) dưới góc nhìn Theologia Prima (thần học nguyên thủy), bài viết mở ra một góc nhìn thần học: Kiến trúc phụng vụ truyền thống không phải là sự hoài cổ cứng nhắc, mà là chiếc cầu nối đưa tâm hồn người thờ phượng chạm vào thực tại vĩnh cửu.
***
Khi thuyết giảng tại các giáo xứ hay giảng dạy trên lớp, tôi thường nhận được nhiều câu hỏi rất sâu sắc từ các sinh viên, thành viên ban xây dựng, kiến trúc sư, các cha chánh xứ và hội đồng mục vụ. Những câu hỏi này giúp tôi hiểu rõ nhu cầu và khát vọng của Dân Thiên Chúa. Dưới đây là những thắc mắc thường gặp nhất, đi kèm phần giải đáp tóm tắt để quý độc giả tiện tham chiếu.
Phải chăng Công đồng Vatican II đã bãi bỏ các nhà thờ cổ kính và mỹ lệ? Còn về “sự đơn sơ cao nhã” thì sao?
Các văn kiện của Công đồng Vatican II liên quan đến nghệ thuật và kiến trúc hoàn toàn có sự hiệp thông mang tính liên tục với Truyền thống vĩ đại của Giáo hội, dù có đưa ra những định hướng nhất định cho cuộc canh tân phụng vụ. Hiến chế Phụng vụ Thánh Sacrosanctum Concilium đòi hỏi nghệ thuật thánh phải bao gồm “những dấu chỉ và biểu tượng của các thực tại trên trời” nhằm diễn tả “vẻ đẹp vô biên của Thiên Chúa” (SC, 122). Hiến chế cũng quy định mọi nghệ thuật thánh phải “phù hợp với đức tin, lòng đạo đức và các định luật truyền thống quý báu” (SC, 122).
Điều đáng lưu ý là Công đồng chưa từng dùng thuật ngữ “sự đơn sơ cao nhã” (noble simplicity) để chỉ về nghệ thuật và kiến trúc phụng vụ. Công đồng thực sự đòi hỏi các thánh đường phải hướng tới “vẻ đẹp cao nhã” (noble beauty) (SC, 124). Cụm từ “sự đơn sơ cao nhã” trong văn kiện Công đồng chỉ được dùng để đề cập đến các nghi thức phụng vụ (SC, 34). Do đó, theo chính tinh thần văn kiện Công đồng Vatican II, vẻ đẹp mới chính là đích nhắm của kiến trúc thánh đường.
Ngày nay có thể xây dựng các nhà thờ theo phong cách truyền thống không? Chi phí có quá sức không? Liệu có đủ nhân tài nghệ thuật và kiến trúc để thực hiện?
Kể từ khi Chủ nghĩa Hậu hiện đại xuất hiện vào những năm 1960, giới kiến trúc đã tái chiêm ngắm vị thế của các hình thái truyền thống. Phong trào Chủ nghĩa Tân Cổ điển (New Classicism) đã hoạt động gặt hái nhiều hoa trái suốt hơn hai thập kỷ qua. Những năm gần đây, các bản thiết kế thánh đường Công giáo theo phong cách truyền thống xuất hiện ngày càng sánh bước với thời đại.
Trung tâm Hành hương Đức Mẹ Guadalupe ở La Crosse, nguyện đường Đại học Thomas Aquinas (California), và Đan viện Dòng Biển Đức ở Clear Creek (Oklahoma) là những minh chứng sống động rằng kiến trúc truyền thống hoàn toàn khả thi hôm nay. Hàng loạt công trình khác cũng đang tiếp nối con đường này. Việc cố gắng bám víu vào phong cách hiện đại thời thượng từ các kiến trúc sư danh tiếng (dù từng được áp dụng tại các Nhà thờ Chính tòa Los Angeles và Oakland) nay đã bộc lộ là một hướng đi hoàn toàn lỗi thời.
Kiến trúc truyền thống không nhất thiết phải tốn kém hơn các phương pháp xây dựng cao cấp khác. Phong cách Hiện đại cách tân thường đắt đỏ một cách thái quá do đòi hỏi các vật liệu chế tạo riêng biệt. Kiến trúc truyền thống có thể được nâng tầm nhờ các đường nét tinh xảo và vật liệu cao quý, hoặc cũng có thể giản dị hóa mà vẫn duy trì trọn vẹn ngôn ngữ kiến trúc thánh truyền thống.
Điều cốt yếu nhất khi xây dựng một thánh đường truyền thống là chọn lựa vị kiến trúc sư am tường và chuyên sâu về kiến trúc truyền thống. Nhiều kiến trúc sư thường hứa hẹn yếu tố “truyền thống” bằng cách ghép thêm vài vòm nhọn hay vài đường gờ trang trí vào một bản vẽ vốn mang đậm tính Hiện đại. Kiểu thiết kế chắp vá này cần phải bị loại bỏ thẳng tay, bằng không kết quả thu được sẽ chỉ là thứ ‘cổ điển kiểu trung tâm thương mại’ hay ‘Gô-tích phong cách Disneyland’.
Sử dụng các phong cách kiến trúc truyền thống có phải là sự sao chép quá khứ một cách máy móc? Liệu có không gian cho sự phát triển mới trong kiến trúc thánh đường?
Luôn luôn có không gian cho sự phát triển trong kiến trúc Công giáo, tương tự như việc triển khai giáo lý để thấu hiểu tường tận hơn về Mạc khải của Đức Kitô. Tuy nhiên, việc rập khuôn theo các trào lưu thần học thời thượng không phải là câu giải đáp; mọi xu hướng phải được thẩm định qua Chân lý Mạc khải và Giáo huấn kế thừa của Giáo hội. Kiến trúc cũng tuân theo quy luật đó. Giáo hội luôn mở rộng đón nhận các công nghệ và phong cách của thời đại, miễn sao chúng đem lại sự tôn kính và cung kính xứng đáng cho các Nghi lễ Phụng vụ (SC, 123).
Việc áp dụng các quy chuẩn nghệ thuật và kiến trúc ‘mới’ chỉ vì tính thời thượng của chúng không thể thay thế cho sự thẩm định thần học nghiêm túc. Ngược lại, việc tái lập các hình thái cổ xưa chỉ vì chủ nghĩa hoài cổ cũng là điều bất cập. Kiến trúc truyền thống mới không bao giờ là bản sao máy móc của một công trình trong quá khứ. Quá khứ chính là kho tàng ân huệ để múc lấy: chúng ta không ngần ngại đổi mới khi cần thiết, nhưng cũng luôn trung thành kế thừa khi thời điểm đòi hỏi.
Khi Dân Chúa là những “viên đá sống động”, tại sao không dùng một hội trường nhóm họp đơn sơ để cử hành Thánh lễ?
Dân Thiên Chúa quả thực là những viên đá sống động cấu thành Giáo hội lữ hành. Tuy nhiên, các văn kiện Công đồng Vatican II nhắc nhớ chúng ta rằng Phụng vụ Thánh là sự thực thi Chức tư tế của Chúa Giêsu Kitô, gồm Đầu và các Chi thể (SC, 7), nơi chúng ta ‘được nếm cảm trước Phụng vụ Trên Trời cử hành trong Thành Thánh Giê-ru-sa-lem, nơi chúng ta là những lữ khách đang tiến về, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa như Đấng Phục Vụ Cung Thánh và Lều Thánh thật; chúng ta cùng hát bài ca vinh quang Chúa với toàn thể đạo binh thiên quốc’ (SC, 8).
Sứ mạng của nghệ thuật và kiến trúc phụng vụ là kiến tạo nên một không gian không chỉ đáp ứng nhu cầu quy tụ của cộng đoàn dưới đất, mà còn giúp họ qua các ảnh tượng thánh ‘chiêm ngắm’ trọn vẹn Cộng đoàn Phụng vụ Vinh hiển: các Thiên thần, các Thánh, Thiên Chúa Ba Ngôi. Tự thân thánh đường là một Dấu chỉ Bí tích của Thành Quốc Thiên Quốc, nơi được Kinh Thánh mô tả là trật tự, hoàn mỹ, rực rỡ, trang hoàng bằng ngọc quý và vàng kim.
Vì thế, ngôi thánh đường trợ lực cho sự tham dự trọn vẹn, ý thức và tích cực của tín hữu bằng cách cho họ nếm cảm trước chính các Thực tại Thiên Quốc mà họ đang thông phần. Ngôi thánh đường không chỉ phản chiếu thực tại trần thế, mà còn mở ra tầm nhìn hướng về Cánh chung, khi Thiên Chúa tái thiết toàn thể vũ trụ trong Vinh quang.
Căn phòng Tiệc Ly vốn rất đơn sơ. Đức Giêsu chưa từng khoác phẩm phục lộng lẫy hay dùng Chén Thánh bằng vàng. Vậy tại sao Phụng vụ lại cần những điều ấy? Chẳng phải chúng ta nên dùng khoản tiền đó để cứu trợ người nghèo hay sao?
Vì Phụng vụ Thánh mang bản chất tưởng niệm Bữa Tiệc Ly, nhiều người dễ lầm tưởng rằng Phụng vụ chỉ có nhiệm vụ tái hiện cuộc đời lịch sử trần thế của Đức Kitô. Tuy nhiên, cần nhớ rằng trong Mạc khải về Mầu nhiệm Nhập thể, Đức Kitô đã ẩn giấu Thần tính và Quyền năng của Ngài, ngoại trừ một vài biến cố đặc biệt như các Phép lạ hay Biến Hình trên núi. Phụng vụ Công giáo không chủ yếu hướng về một Đức Kitô ẩn dật trong lịch sử, mà là sự nếm cảm trước về một Đức Kitô Vinh Hiển trong Cuộc Quang Lâm (Parousia).
Thánh Cyrillô, Giám mục Giê-ru-sa-lem (thế kỷ IV), từng viết: ‘Trong lần đến thứ nhất, Ngài chịu bọc trong tã lót nơi máng cỏ. Trong lần đến thứ hai, Ngài khoác ánh sáng làm áo mặc. Trong lần đến thứ nhất, Ngài gánh lấy Thánh Giá; ... trong lần đến thứ hai, Ngài ngự trong Vinh quang cùng đạo binh Thiên thần. Vì thế, chúng ta nhìn vượt qua lần đến thứ nhất để đợi chờ Lần Đến Thứ Hai.’
Phụng vụ trần gian gợi lại bóng hình Bữa Tiệc Ly và Lễ Vượt Qua, nhưng cốt yếu hơn cả, đó là hình ảnh tiên báo thực tại Tiệc Cưới Thiên Quốc của Con Chiên. Chén Thánh không chỉ gợi nhớ chiếc chén trong Bữa Tiệc Ly, mà còn là biểu trưng cho Bàn Tiệc Vinh Hiển Rực Rỡ trên Trời. Tương tự, ngôi thánh đường phải phản chiếu sự trật tự và hoàn mỹ của Cõi Bất Diệt.
Việc kiến tạo những ngôi thánh đường mỹ lệ không nhằm thay thế cho công việc bác ái hay chăm sóc bệnh nhân, nhưng đây cũng không phải là sự lựa chọn gượng ép mang tính chọn lựa. Người nghèo khổ và bệnh tật cũng là những thành phần được mời gọi tham dự Phụng vụ, và họ có trọn quyền được nếm cảm thực tại Thiên Quốc như bất kỳ ai. Hơn nữa, người nghèo vốn là những người ít có cơ hội sở hữu không gian sống đẹp đẽ. Một ngôi thánh đường nguy nga chính là nơi trú ngụ tâm hồn cho họ, một nhu cầu thiêng liêng cấp thiết không kém gì cơm ăn áo mặc. Phục vụ người nghèo bao hàm cả việc đáp ứng nhu cầu nhân văn của họ về Vẻ Đẹp Phụng Vụ.
Phải chăng các Kitô hữu sơ khởi chỉ hội họp tại các tư gia? Vậy tại sao ngày nay lại xây dựng các Thánh đường nguy nga?
Mặc dù Sách Tông đồ Công vụ ghi nhận các tín hữu sơ khởi ‘bẻ bánh’ tại tư gia, nhưng Kinh Thánh cũng nhấn mạnh họ luôn trở về Đền Thờ để cầu nguyện. Nhiều bài giáo huấn và phép lạ quan trọng của các Tông đồ đã diễn ra ngay trong khuôn viên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem. Đền Thờ thời bấy giờ là một quần thể kiến trúc nguy nga mang phong cách La Mã. Đức Kitô và các Tông đồ đã bước đi giữa những hàng cột Côrintô, các gờ chỉ cổ điển, và đại đường Basilica (Royal Stoa) lộng lẫy, một không gian kiến trúc không mấy khác biệt so với các Thánh đường thời sơ khai thế kỷ IV tại La Mã. Kitô giáo được hoài thai không chỉ trong Do Thái giáo mà còn trong lòng Đế quốc La Mã, từ rất lâu trước khi Hoàng đế Constantinô đón nhận Đức tin.
Dù Kitô giáo có xuất hiện trong một khoảng trống văn hóa đi nữa, Giáo hội vẫn cần phát triển một nền nghệ thuật và kiến trúc mang tính Bí tích, đủ sức chuyển tải hình ảnh của Giê-ru-sa-lem Trên Trời. Vì thế, xu hướng thu hẹp khái niệm thánh đường về mô hình ‘ngôi nhà sinh hoạt’ chỉ là một dạng hoài cổ lệch lạc mang tư duy ‘càng cổ xưa càng tốt’. Tòa thánh đường không đơn thuần là một ngôi nhà, mà là một Không gian Công cộng mang Tính Nghi lễ và Bí tích, nơi muôn người quy tụ để nếm cảm trước Vinh quang và Sự Hoàn mỹ của vinh quang Thiên quốc.
Đâu là những nguyên tắc thần học chi phối thiết kế Bàn Thờ?
Mấy thập niên qua, Bàn Thờ thường được ví như ‘bàn ăn của cộng đoàn’. Điều này không sai, bởi Bàn Thờ chính là nơi Dân Chúa lữ hành quy tụ để tạ ơn Ngài. Nhưng sâu xa hơn thế, Bàn Thờ là một Bí tích, dấu chỉ hữu hình thể hiện thực tại vô hình. Thực tại cốt lõi ấy là: Bàn Thờ đại diện cho Bàn Tiệc Cánh Chung Vinh Hiển, và là Biểu Tượng của chính Đức Kitô.
Sách Khải Huyền mạc khải rằng tương lai của nhân loại là khúc hoan ca vĩnh cửu bên Thiên Chúa khi công trình Cứu độ hoàn thành. Thiên Chúa sẽ là ‘mọi sự trong mọi người’ và Sự Hiện Diện Thần Linh sẽ biến đổi tất cả. Sự dữ cùng hậu quả của Tội Lỗi, cái chết, đau khổ, lệ đá, sẽ hoàn toàn bị dập tắt, để Thiên Chúa hân hoan tái hợp nhất với muôn loài Ngài đã dựng nên. Cử hành vĩnh cửu đó được gọi là ‘Tiệc Cưới Con Chiên’: Đức Kitô - Chàng Rể - nên một vĩnh viễn với Giáo hội - Tân Nương của Ngài.
Phụng vụ dưới đất chính là sự thông phần vào Phụng vụ Thiên Quốc. Bữa ăn Phụng vụ cử hành trên Bàn Thờ diễn tả tính vững bền, sự rạng ngời và nét hoàn mỹ vĩnh cửu. Chúng ta tập làm quen với Thiên Quốc bằng cách thực thi các nghi thức Thiên Quốc ngay trong hành trình lữ thứ.
Dẫu vậy, Thánh lễ còn là một Đại Hy Tế. Do đó, Bàn Thờ không đơn thuần là bàn ăn, mà là Bàn Tế Tự. Đức Kitô vừa là Thượng Tế, vừa là Bàn Thờ, vừa là Lễ Vật. Chính Ngài mới là Bàn Thờ Đích Thực. Bàn Thờ trần gian biểu thị Đức Kitô, đúng như châm ngôn cổ xưa: ‘Bàn thờ chính là Đức Kitô’ (Altare est Christus). Đó là lý do Linh mục Chủ tế hôn Bàn Thờ khi tiến vào Cung Thánh, bởi hôn Bàn Thờ chính là hôn kính chính Đức Kitô.
Vì là Dấu chỉ Bí tích của Đức Kitô, Bàn Thờ được thiết chế để làm nổi bật “Tính Kitô”:
Chất liệu vững bền: Bàn Thờ được chế tác bằng đá tự nhiên và gắn cố định vào nền nhà, biểu thị tính Bền vững và Vĩnh cửu của Con Thiên Chúa.
Năm Vết Thương Thánh: Trên mặt Bàn Thờ được khắc 5 hình Thánh Giá nhỏ, tượng trưng cho 5 Vết Thương Thánh trên Thân Thể Ngài.
Nghi thức Thánh hiến: Khi Đức Giám mục Thánh hiến (Xức dầu) Bàn Thờ, Bàn Thờ được nhìn nhận như một Thân Thể: Rẩy Nước Thánh (gợi nhớ Bí tích Rửa Tội) và Xức Dầu Thánh (Chrism), biểu thị Đức Kitô là “Đấng Được Xức Dầu”.
Mặc Y Phục và Chiếu Sáng: Sau khi xức dầu, Bàn Thờ được phủ Khăn Trắng, biểu thị Y phục Trắng vinh hiển của các Đấng trên Trời, sẵn sàng cho Bàn Tiệc Cánh Chung, nơi chính Thiên Chúa tự hiến làm Bánh Hằng Sống trong Bí tích Thánh Thể.
Cần lưu ý những khía cạnh nào khi thiết kế Tòa Giảng (Ambo)?
Nguồn gốc Tòa Giảng (Ambo) khởi đi từ thời Giáo hội Sơ khởi, nơi không gian này được tách biệt chuyên biệt cho việc công bố Lời Chúa và diễn giảng Phụng vụ. Tòa Giảng không đơn thuần là bục đọc sách (lectern), mà chính là một “Cung Thánh của Lời Thiên Chúa”.
Tại Tòa Giảng, chúng ta được nuôi dưỡng bằng Lời Mạc Khải của Thiên Chúa, tương tự như tại Bàn Thờ, chúng ta được nuôi dưỡng tối thượng (par excellence) bằng Mình và Máu Đức Kitô. Vì lẽ đó, Tòa Giảng phải thể hiện sự tương hợp chặt chẽ về hình khối, đường nét và chất liệu với chính Bàn Thờ.
Cần tuân theo các nguyên tắc nào khi thiết kế Giếng Thánh Tẩy (Baptistry)?
Trong thời Kỳ Sơ khởi, Giếng Thánh Tẩy (Baptistery) thường là một công trình kiến trúc tách biệt với lòng Nhà thờ. Những dự tòng chưa được tính là “công dân” của Giáo hội, nên họ lãnh nhận Bí tích Rửa Tội ở công trình bên ngoài này, rồi mới tiến vào Thánh đường trong khúc ca khải hoàn.
Theo thời gian, việc ban Bí tích Rửa Tội dần chuyển sang hình thức đổ nước trên đầu trẻ nhỏ, khiến Giếng Rửa Tội bị thu nhỏ kích thước và mất đi vị thế kiến trúc vốn có. Sang thế kỷ XX, tư duy thần học đã trả lại cho Bí tích Rửa Tội ý nghĩa cốt lõi vốn có một cử hành phụng vụ mang trọn vẹn chiều kích Thanh Tẩy, Cùng Chết Đi và Tái Sinh. Nhờ đó, dấu chỉ phụng vụ được diễn tả trọn vẹn hơn qua hình thức Dìm Mình.
Sau Công đồng Vatican II, nhấn mạnh về Bí tích Rửa Tội như cánh cửa tháp nhập vào Dân Thiên Chúa được đề cao, đưa Giếng Thánh Tẩy trở lại bên trong lòng Nhà thờ. Tuy nhiên, việc bố trí Giếng Thánh Tẩy cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc thần học:
Ý niệm “Bước Vào”: Vị trí Giếng Thánh Tẩy (thường đặt ở lối vào hoặc Cửa Nhà thờ) phải biểu thị sự “khởi đầu bước vào” Giáo hội. Tuyệt đối tránh đặt Giếng Thánh Tẩy ngay trên Cung Thánh bên cạnh Bàn Thờ, vì Bí tích Rửa Tội là Sự Khởi Đầu, chứ không phải là Điểm Đến Cánh Chung (vốn thuộc về Bí tích Thánh Thể).
Hình Bát Giác (8 cạnh): Kiến trúc Giếng Thánh Tẩy mang hình 8 cạnh gắn liền với Truyền thống sâu xa về “Ngày Thứ Tám” - Ngày Phục Sinh của Đức Kitô, vượt ra ngoài tuần sáng tạo 7 ngày cũ, biểu thị cho Sự Sống Mới và Sự Nghỉ Ngơi Vĩnh Cửu của Thiên Quốc.
Cung Lòng và Huyệt Mộ: Giếng Thánh Tẩy vừa biểu thị cho Huyệt Mộ, vừa là Cung Lòng tái sinh. Tín hữu bước xuống các bậc thang tượng trưng cho việc “chết đi” đối với con người cũ (bước xuống huyệt mộ), và sau khi dìm mình qua nước Tẩy Rửa, họ bước lên ở phía bên kia như một Thọ Tạo Mới được sinh ra từ Mẫu Thể Giáo hội.
Tại sao nhiều nhà thờ xây dựng sau Công đồng Vatican II lại thiếu đi giá trị thẩm mỹ? Tại sao lại dỡ bỏ Bàn Thờ Đá Cẩm Thạch và sơn đè lên các bức tranh tường cổ?
Vào thế kỷ XX, tư tưởng Hiện đại đề cao tiến bộ kỹ thuật. Giáo hội cũng khao khát chứng minh Đức tin có thể đối thoại với thời đại. Tuy nhiên, một số xu hướng nghệ thuật đương thời lại đi theo chủ nghĩa cơ khí, lấy nhà máy hay cỗ máy làm chuẩn mực kiến trúc (với bê tông, kính, thép). Dù tư duy cơ khí này khá xa lạ với Thần học Bí tích, nhiều mục tử thời đó vẫn áp dụng với mong muốn đưa Giáo hội tiến cùng thời đại.
Sau Công đồng Vatican II, một trào lưu thần học lệch lạc đã tự quy định nhà thờ chỉ là “Nhà nhóm họp” (meetinghouse). Mặc dù chủ nghĩa hoài cổ thiếu phê phán này từng bị Đức Giáo hoàng Piô XII lên án trong Thông điệp Mediator Dei, một số nhà thần học vẫn cho rằng nhà thờ không cần mang nét thánh thiêng mà chỉ là "lớp vỏ cho hành vi phụng vụ".
Sách Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo đã chấn chỉnh quan niệm này khi khẳng định: Các nhà thờ “không đơn thuần là những nơi nhóm họp, nhưng biểu thị và làm cho thấy Giáo hội đang sống ở nơi này, là nơi Thiên Chúa ở với con người đã được giao hòa và hợp nhất trong Đức Kitô” (CCC, 1181).
Chính vì hiểu sai nhà thờ là nhà nhóm họp đơn thuần, người ta đã dỡ bỏ Bàn Thờ cổ, Trướng Bàn Thờ (Altarpiece), Tượng Thánh và các Bức Bích họa. Dưới triều đại Đức Giáo hoàng Bênêđictô XVI, Giáo hội đã làm sáng tỏ rằng Công đồng Vatican II là một cuộc canh tân dựa trên Nguyên tắc Giải thích về tính Liên tục (Hermeneutic of Continuity), chứ không phải sự Đứt gãy (Rupture). Nhờ đó, cộng đoàn Dân Chúa đang ngày càng tái khám phá và trân trọng Giá trị Trường tồn của Kiến trúc Phụng vụ Truyền thống.
Tác giả: Đức Hữu chuyển ngữ
Nguồn tin: www.sacredarchitecture.org