Bài giảng dịp Tĩnh tâm linh mục Tháng 01

Thứ sáu - 09/01/2026 04:10  116

TĨNH TÂM LINH MỤC GIÁO PHẬN
TÒA GIÁM MỤC BÙI CHU
THÁNG 1/2026

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo thánh Gioan: Ga 1,9-14
9 Ngôi Lời là ánh sáng thật,
ánh sáng đến thế gian
và chiếu soi mọi người.
10 Người ở giữa thế gian,
và thế gian đã nhờ Người mà có,
nhưng lại không nhận biết Người.
11 Người đã đến nhà mình,
nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận.
12 Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người,
thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.
13 Họ được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.
14 Ngôi Lời đã trở nên người phàm
và cư ngụ giữa chúng ta.
Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người,
vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người,
là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật.
Đó là Lời Chúa.

Chủ đề: “THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI CHO LINH MỤC LÀM CHÚA”
Lý do:

  • Chúng ta vừa trải qua thời gian sống mầu nhiệm Chúa Giáng Sinh, chiêm ngắm Con Thiên Chúa nhập thể làm người. Đây là một biến cố vô cùng quan trọng và ý nghĩa.

  • Ngày nay chúng ta thấy một thực trạng xã hội là nhiều người cậy dựa vào những sự trần gian như tiền của vật chất, những mối tương quan xã hội, những thế lực cuộc sống. Do đó, chúng ta thấy người ta phản ánh trên các phương tiện truyền thông, nhiều người ra đường tỏ ra rất ngông nghêng, đụng chút là hung hăng quát nạt: Mày có biết tao là ai không? Mày có biết bố tao là ai không?

Những điều đó có thể làm ảnh hưởng tới đời sống tu trì, chúng ta cũng dễ ảo tưởng về chính mình, cũng tự cho mình có những đặc quyền riêng.

  1. NƠI CĂN TÍNH

  1. ĐỨC GIÊSU VỪA LÀ CHÚA VỪA LÀ NGƯỜI

Thánh Danh Giêsu có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Độ”. Hài nhi sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria được gọi là “Giêsu”: “Vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1,21). “Dưới gầm trời này, không có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại để chúng ta phải nhờ vào danh đó mà được cứu độ” (Cv 4,12).[1]
Ðức Giêsu thành Nadareth, con của Ðức Maria, và chỉ một mình Người, là Con và là Lời của Chúa Cha. Ngôi Lời, Ðấng “từ đầu đã ở với Thiên Chúa” (Ga 1, 2) cũng là một với Ðấng “đã biến thành nhục thể” (Ga 1, 14). Trong Ðức Giêsu, “Ðấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16), “tất cả sự viên mãn của thần tính hiện diện cách cụ thể” (Cl 2, 9). Người là “Con Một Chúa Cha, là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha” (Ga,18), là “Con chí ái Chúa Cha, trong Người ta được ơn cứu chuộc. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Người, cũng như muốn nhờ Người mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Người đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời” (Cl 1, 13-14; 19-20).”[2]
Đức Giêsu không chỉ là con người nhưng còn là Chúa. Điều này được các Tin mừng ghi lại khi Ngài làm cho kẻ què đi được, kẻ câm nói được, người điếc nghe được, kẻ mù được thấy… và nhất là cho kẻ chết sống lại
Tân Ước đã chỉ ra những yếu tố cho thấy Đức Giêsu Kitô là một con người thực sự. Những yếu tố hết sức hiển nhiên về Đức Giêsu Kitô như: Người được sinh ra bởi một người mẹ, đã lớn lên, đã biết đói, biết khát, có sự mệt mỏi, có niềm vui, nỗi buồn, yêu thương, giận dữ, có những cực nhọc, đau đớn, bị Thiên Chúa bỏ rơi và cuối cùng phải chết.”[3]
Công đồng Vaticano II khẳng định: “Con Thiên Chúa đã làm việc với đôi tay nhân loại, suy nghĩ bằng trí óc nhân loại, hành động theo ý chí nhân loại, yêu mến bằng quả tim nhân loại. Sinh làm con Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thật sự trở nên một người giữa chúng ta, giống chúng ta trong mọi sự, ngoại trừ tội lỗi.”[4]
Đức Giêsu đã trở thành người cho mọi người: Nơi Đức Giêsu, mọi xác phàm sẽ nhìn thấy ơn cứu độ, lương dân sẽ tìm được ánh sáng rạng soi cho cuộc đời, con người sẽ tìm thấy một người bạn, người đồng minh trung thành.”[5]
Chính Đức Kitô đã tự giới thiệu mình như là vị Trung gian độc nhất giữa con người và Thiên Chúa: “không ai có thể đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Bởi đó, Đức Giêsu không những là người bắc cầu mà còn là chính cây cầu nối kết giữa Thiên Chúa và loài người; Ngài là cây cầu mà đồng thời lại cũng chính là đích đến; Ngài không chỉ là Con Đường đưa đến sự sống mới, mà chính Ngài là Sự Sống mới của chúng ta; cũng thế, Ngài không chỉ là Thầy dạy chân lý, mà là chính Chân Lý: Tôi là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6).”[6]
Đức Lêô cả: Con Thiên Chúa đi vào những chốn thấp hèn nhất của trần gian, Người xuống từ ngai thiên quốc mà không từ bỏ vinh quang Chúa Cha, Người ra đời trong một trật tự mới nhờ một cuộc sinh ra mới mẻ. Một trật tự mới, vì vốn là vô hình trong những điều kiện của Người, Người đã thành hữu hình trong thân phận chúng ta; là vô biên, Người đã muốn bị cầm giữ; hiện hữu trước muôn đời muôn thuở, Người đã bắt đầu hiện diện trong thời gian; là Chúa Tể vũ trụ, Người đã lấy bóng mờ mà che đậy vẻ oai phong lẫm liệt của Người, đã nhận lấy hình mẫu nô lệ; là Thiên Chúa không bị đau khổ chi phối (impassible), Người đã không nề hà làm người biết đau khổ, là bất tử, Người không nề hà tùng phục quy luật của cái chết. Người sinh ra nhờ một cuộc ra đời mới mẻ, bởi vì Đức Trinh Nữ chưa hề bị xâm phạm, chẳng hề biết thế nào là dục vọng, đã cung cấp chất liệu xác phàm. Từ Thánh Mẫu của Đức Chúa, Người đã nhận lấy bản tính chứ không nhận lỗi lầm; và nơi Chúa Giêsu Kitô, Đấng được sinh ra từ cung lòng một trinh nữ, cuộc ra đời kỳ diệu không làm cho bản tính của Người khác với bản tính chúng ta. Vì cùng một Đấng là Thiên Chúa thật cũng là người thật. Trong sự hiệp nhất đó không có gì là dối trá, một khi con người khiêm hạ và Thiên Chúa cao siêu bao bọc lẫn nhau. Bởi chưng, Thiên Chúa không đổi thay vì Người nhân từ thì cũng vậy con người không bị thấm hút bởi phẩm giá [cao sang]. Vì mỗi mẫu hình hoàn tất phận sự riêng của mình trong sự hiệp thông với nhau, Ngôi Lời thực hiện những gì thuộc Ngôi Lời, xác phàm thực hiện những gì thuộc xác phàm; Ngôi Lời lấp lánh hào quang những phép lạ, xác phàm không đủ sức đương đầu những kẻ lăng mạ mình.
Chúa Giêsu Kitô có hai bản tính, thần tính và nhân tính, không lẫn lộn, nhưng kết hợp trong Ngôi Vị duy nhất của Con Thiên Chúa.”[7] Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.”[8]
Biến cố độc nhất vô nhị là việc Nhập Thể của Con Thiên Chúa không có nghĩa là Chúa Giêsu Kitô một phần là Thiên Chúa, một phần là người; cũng không có nghĩa Người là kết quả của một sự pha trộn lẫn lộn giữa hai bản tính thần linh và nhân loại. Người đã thật sự làm người, mà vẫn thật sự là Thiên Chúa. Chúa Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật và là người thật.”[9]
Công đồng Chalcedoine tuyên tín: “Trong cùng một Đức Kitô duy nhất, là Đức Chúa, là Chúa Con duy nhất, chúng ta phải tin nhận có hai bản tính, không lẫn lộn, không thay đổi, không phân chia, không tách biệt. Sự khác biệt giữa hai bản tính không hề bị mất đi do việc kết hợp, nhưng các đặc điểm của mỗi bản tính đã được bảo tồn và hợp nhất trong cùng một ngôi vị duy nhất và một ngôi hiệp duy nhất”[10]
Đức Giêsu đã sống trọn vẹn là Thiên Chúa thật và là người thật. Đây không phải là một sự biến hóa lúc làm Thiên Chúa, lúc làm người nhưng là sự duy nhất nơi ngôi vị Đức Giêsu Kitô. Đức Giêsu đã không dùng quyền năng của một Thiên Chúa để thị uy hay bắt người người phải quy phục mình. Người cũng không để cho những người yếu đuối của bản tính nhân loại làm mất đi vẻ uy phong của một Thiên Chúa. Người đã sống hoàn hảo đến nỗi thánh Gioan đã nói: “Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và chiếu soi mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”. Khi đi rao giảng, nhiều người đã phải thốt nên: “Một ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện”. Nhưng rồi, nhiều người lại thắc mắc: “Ông ta không phải là con bác thợ, con bà Maria sao?”.

  1. NGƯỜI LINH MỤC VỪA LÀM NGƯỜI VỪA LÀM CHÚA

"căn tính linh mục, cũng như bất cứ căn tính nào của người Kitô hữu, bắt nguồn từ Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi" (20) là Mầu nhiệm được mạc khải, được chuyển đạt cho loài người nơi Chúa Kitô, đồng thời trong Ngài và nhờ hoạt động của Chúa Thánh Thần, tạo thành Giáo Hội với tư cách là "hạt mầm và khởi đầu" của Nước Trời (PVD 12)
Trong thư Do thái, Thánh Phaolô đã viết: “1 Quả vậy, thượng tế nào cũng là người được chọn trong số người phàm, và được đặt lên làm đại diện cho loài người, trong các mối tương quan với Thiên Chúa, để dâng lễ phẩm cũng như tế vật đền tội.2 Vị ấy có khả năng cảm thông với những kẻ ngu muội và những kẻ lầm lạc, bởi vì chính người cũng đầy yếu đuối;3 mà vì yếu đuối, nên người phải dâng lễ đền tội cho dân thế nào, thì cũng phải dâng lễ đền tội cho chính mình như vậy.4 Không ai tự gán cho mình vinh dự ấy, nhưng phải được Thiên Chúa gọi, như ông A-ha-ron đã được gọi” (Dt 5,1-4)
Đức Hồng y Joseph Ratzinger, Tổng trưởng Bộ Giáo lý Đức tin, trình bày vào năm 1990. “Bản chất của chức linh mục”: Nếu theo thói quen của Giáo Hội, việc truyền chức vào thừa tác vụ linh mục được gọi là một “bí tích”, thì ý nói như sau: Người này tuyệt nhiên không thi hành những chức năng mà mình vốn xuất sắc nhờ khả năng tự nhiên, cũng không làm những việc hợp sở thích hay “có lợi” nhất cho bản thân. Trái lại, người lãnh nhận bí tích được sai đi để trao ban điều mà tự sức riêng mình họ không thể trao; họ được sai đi để hành động nhân danh một “Đấng Khác”, trở nên khí cụ sống động của Đấng ấy. Bởi thế, không ai có thể tự tuyên bố mình là linh mục; cũng vì lẽ đó, không một cộng đoàn nào có thể, bằng nghị quyết riêng, cất nhắc ai vào thừa tác vụ này. Chỉ từ bí tích—thuộc về Thiên Chúa—người ta mới lãnh nhận chức linh mục. Sứ mạng chỉ có thể được lãnh từ Đấng sai đi, tức là Đức Kitô nơi bí tích của Người, nhờ đó một người trở nên tiếng nói và đôi tay của Đức Kitô giữa trần thế. Sự trao hiến chính mình, nghĩa cử từ bỏ và quên mình này không hủy diệt con người; trái lại, nó dẫn tới trưởng thành nhân linh đích thực, vì đồng hình đồng dạng với mầu nhiệm Ba Ngôi và làm cho hình ảnh theo đó ta được dựng nên được bừng sống. Bởi ta được dựng nên theo hình ảnh Ba Ngôi, ai mất sự sống mình thì sẽ tìm lại được.
Nhiều người có quan niệm rằng: linh mục chỉ là cha khi mặc áo lễ. Vì thế, nhiều người chỉ tôn trọng các cha khi các ngài cử hành các bí tích, còn ngoài ra thì cũng đồng hóa linh mục cũng như người giáo dân. Thưa không, đã là linh mục, đã là người được xức dầu thì mãi mãi và luôn luôn. Chúng ta không thể xin phép nghỉ làm linh mục đôi chút mà sống theo những thói của thế gian. Người linh mục là người trọn vẹn nhưng cũng là chúa trọn vẹn. Vì vậy, người linh mục cần ý thức để luôn cố gắng. Người linh mục không thể chỉ hoàn toàn là người với những yếu đuối, đam mê, tội lỗi; những thói hư tật xấu. Người linh mục không thể cứ đổ lỗi cho rằng linh mục cũng là người nên cho phép mình có những sai sót, chấp nhận một lối sống bừa bãi, phóng túng. Nhưng cần phải biết phấn đấu vươn lên mỗi ngày.
Người linh mục cũng không thể cho rằng tôi đã được xức dầu, đã thuộc về Chúa nên thuộc đẳng cấp khác, luôn ở trong trạng thái đầu không tới trời mà chân không chạm đất. Tự cho mình quyền hành bởi vì có các phép.
Nhiều người giáo dân tin rằng: Linh mục rất giỏi, cái gì cũng thông thạo: trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, tiếng nước nào cũng biết mỗi tội là ngài khiêm nhường không nói bao giờ. Vì thế, chúng ta dễ bị ảo tưởng về chính mình.
Là con người yếu đuối chúng ta được Chúa thương tuyển chọn thánh hiến để làm dụng cụ cho Chúa. Vì vậy, chúng ta cần ý thức để biết sống khiêm tốn. Chúng ta cần sống trọn vẹn là con người và trọn vẹn là người linh mục của Chúa.

Câu hỏi:

  1. Tôi đã sống trọn vẹn là người và là linh mục của Chúa nơi đời sống của tôi chưa?

  2. Tôi có cần điều chỉnh điều gì để người khác gặp được Chúa qua đời sống của tôi không?

 

  1. NƠI SỨ VỤ

Tin Mừng Đức Giêsu Kitô theo Thánh Máccô
Mc 1,29-39
29 Vừa ra khỏi hội đường Ca-phác-na-um, Đức Giê-su đi đến nhà hai ông Si-môn và An-rê. Có ông Gia-cô-bê và ông Gio-an cùng đi theo.30 Lúc đó, bà mẹ vợ ông Si-môn đang lên cơn sốt, nằm trên giường. Lập tức họ nói cho Người biết tình trạng của bà.31 Người lại gần, cầm lấy tay bà mà đỡ dậy; cơn sốt dứt ngay và bà phục vụ các ngài.
32 Chiều đến, khi mặt trời đã lặn, người ta đem mọi kẻ ốm đau và những ai bị quỷ ám đến cho Người.33 Cả thành xúm lại trước cửa.34 Đức Giê-su chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật, và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai.
35 Sáng sớm, lúc trời còn tối mịt, Người đã dậy, đi ra một nơi hoang vắng và cầu nguyện ở đó.36 Ông Si-môn và các bạn kéo nhau đi tìm.37 Khi gặp Người, các ông thưa: "Mọi người đang tìm Thầy đấy! "38 Người bảo các ông: "Chúng ta hãy đi nơi khác, đến các làng xã chung quanh, để Thầy còn rao giảng ở đó nữa, vì Thầy ra đi cốt để làm việc đó."39 Rồi Người đi khắp miền Ga-li-lê, rao giảng trong các hội đường của họ, và trừ quỷ. Đó là Lời Chúa.

  1. ĐỨC GIÊSU THI HÀNH THÁNH Ý CHÚA

Đức Giêsu xuất hiện trong các sách Tin mừng như một con người rất mực quân bình về tâm trí, không bao giờ để mất sự tự chủ, cả khi Ngài biểu lộ sự nóng giận hay lúc bộc bạch rằng tâm hồn mình buồn sầu đến chết được; khi những người Phariseu tìm cách bắt bẻ những lời của Đức Giêsu, sự đối đáp của Ngài tỏ ra nhanh nhạy, sáng suốt và đi thẳng vào trọng tâm, đồng thời không có tính chất lập lờ. Ngôn ngữ của Ngài thường có tính chất thanh cao và thi phú của những vẻ đẹp trường cửu, như thấy trong bài giảng trên núi hoặc các dụ ngôn. Nơi Ngài nổi bật lên tinh thần xả kỷ: Ngài không có một khao khát nào khác ngoài việc làm chứng về Chúa Cha và chu toàn ý muốn của Người là cứu vớt những con chiên lạc. Trong số những nhân đức biểu lộ sự thánh thiện của Ngài, nổi bật hơn cả là một tình yêu không bờ bến đối với Chúa Cha và nhân loại.”[11]
“Đức Giêsu xuất thân từ một gia đình đạm bạc, nhạy cảm với những nhu cầu và âu lo thường nhật của những con người phận nhỏ.”[12]
Đức Giêsu không ngừng thể hiện tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại. Ngài là vị mục tử luôn chăm sóc từng con chiên, đưa dẫn những người tội lỗi trở về. Ngài mời gọi con người gia nhập vào Nước của Ngài, mà Ngài chính là Vua. Ngài đưa ra những cách thức để con người có thể vào được Nước Trời.
Suốt thời gian thi hành thừa tác vụ, Chúa Giêsu đã xuất hiện như một người, chính bản thân đã kinh nghiệm được Chúa Cha và Thần Khí và như Đấng chuyển giao kinh nghiệm này cho những người khác. Người luôn thể hiện mình như Con một của Chúa Cha, và hoạt động của Người bao giờ cũng bày tỏ quyền năng của Thần Khí.”[13] Đức Giêsu, ngay từ lúc khởi đầu đời sống công khai của Người, lúc Người chịu phép rửa, là “Người Tôi Trung” hoàn toàn hiến thân cho công trình Cứu Độ, công trình này sẽ được hoàn tất trong “phép rửa” là cuộc khổ nạn của Người.”[14]
Đức Giêsu đã luôn ý thức “bổn phận của nhà Cha” nhưng cũng không ngừng “vâng phục” cha mẹ trần gian là Thánh Giuse và Đức Maria.
Người luôn thể hiện dung mạo của một Thiên Chúa giàu lòng thương xót và nhân hậu. Nhưng cũng không ngần ngại vạch trần những thói đạo đức giả, những sự giả hình của nhóm Phariseu, kinh sư, luật sĩ. Người yêu thương tất cả mọi người không loại trừ ai và tìm cách để cứu chữa họ, đưa họ trở về với Thiên Chúa.
Đức Giêsu là Thầy là Chúa mà còn quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ.
Quả thật, như lời Người đã nói: “Con người đến không phải để được phục vụ nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người”.

  1. NGƯỜI LINH MỤC THỰC HIỆN SỨ VỤ

 Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II từng dạy trong Tông huấn Pastores Dabo Vobis: “Linh mục là người của Thiên Chúa, được gọi để trở nên giống Chúa Kitô hơn mỗi ngày, để sống và làm chứng cho sự hiện diện của Ngài trong thế giới.”
Vì vậy, người linh mục thực hiện sứ vụ của mình làm những công việc của Chúa đã làm.
Đoạn tin mừng mà chúng ta vừa nghe thuật lại một ngày sống của Đức Giêsu với rất nhiều công việc khác nhau nhưng Ngài đã luôn thi hành trọn hảo với sự cân bằng trong kết nối với Thiên Chúa và con người.
Còn linh mục đôi khi cũng cho rằng: mình nhiều việc để rồi cách hành sử không được tốt đẹp. Có lẽ chúng ta không giữ được sự kết nối cách cân bằng giữa Thiên Chúa và con người. Chúng ta cậy dựa vào sức của mình mà không phải là đang thực hiện những công việc Chúa trao. Chúng ta dễ có sự phân biệt trong thái độ, đối với người tôi ưa tôi thích thì nhẹ nhàng hơn, còn những người không vừa ý thì chua cay, gắt gỏng.
Thánh Phêrô khuyên chúng ta:
1Pr 3,15-17: Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em.16 Nhưng phải trả lời cách hiền hoà và với sự kính trọng. Hãy giữ lương tâm ngay thẳng, khiến những kẻ phỉ báng anh em vì anh em ăn ở ngay thẳng trong Đức Ki-tô, thì chính họ phải xấu hổ vì những điều họ vu khống,17 bởi lẽ thà chịu khổ vì làm việc lành, nếu đó là ý của Thiên Chúa, còn hơn là vì làm điều ác
1Pr 5,1-4:2 Anh em hãy chăn dắt đoàn chiên mà Thiên Chúa đã giao phó cho anh em: lo lắng cho họ không phải vì miễn cưỡng, nhưng hoàn toàn tự nguyện như Thiên Chúa muốn, không phải vì ham hố lợi lộc thấp hèn, nhưng vì lòng nhiệt thành tận tuỵ.3 Đừng lấy quyền mà thống trị những người Thiên Chúa đã giao phó cho anh em, nhưng hãy nêu gương sáng cho đoàn chiên.4 Như thế, khi Vị Mục Tử tối cao xuất hiện, anh em sẽ được lãnh triều thiên vinh hiển không bao giờ hư nát.
Còn thánh Phaolô thì khuyên Timôthê:
1 Đừng nặng lời với cụ già, nhưng khi khuyên nhủ, hãy coi cụ như cha; hãy coi các thanh niên như anh em,2 các cụ bà như mẹ, các thiếu nữ như chị em, với tấm lòng hoàn toàn trong sạch (1Tm 5,1).
Theo Hồng Y Ratzinger: “Lòng đạo đức không có giáo lý sẽ trở nên ủy mị mong manh; giáo lý không có cầu nguyện sẽ trở nên khô cằn lạnh lẽo. Cầu nguyện không phải là bài tập thứ yếu. Chúng ta chỉ có thể nói nhiều về Chúa nếu chúng ta cầu nguyện nhiều. Ngài xin các linh mục phải là hình ảnh người cha trong sứ vụ của mình, hiến thân trọn vẹn, không làm linh mục nửa vời và tầm thường.” Người trở nên linh mục được tháp ghép vào sứ mạng của Người.
Chính vì thế, một tương quan cá vị thân mật với Đức Kitô là nền tảng cho đời sống và thừa tác vụ linh mục. Mọi chương trình đào tạo linh mục đều phải quy hướng về việc nuôi dưỡng tương quan này. Linh mục phải là người quen biết Đức Giêsu cách thâm sâu, đã gặp gỡ Người và học biết yêu mến Người. Vì vậy, linh mục phải là người cầu nguyện, là người thật sự “thiêng liêng”. Không có chất liệu thiêng liêng vững mạnh, người ấy không thể bền đỗ trong sứ vụ. Từ mầu nhiệm Đức Kitô, linh mục cũng phải học trong đời sống của mình đừng tìm mình, đừng mưu cầu thăng tiến bản thân; nhưng biết hiến dâng đời mình cho Đức Kitô và cho đoàn chiên.
Lối sống như thế trái với khuynh hướng tự nhiên của ta; nhưng dần dần, sẽ hiển lộ rằng chỉ ai có khả năng quên mình mới thật sự tự do. Người phục vụ Đức Kitô sẽ tự thân cảm nghiệm rằng “kẻ này gieo, người kia gặt” (x. Ga 4,36). Người ấy không cần đi tìm thành công để rồi nương tựa vào chính mình. Vì làm việc cho Chúa, người ấy phó dâng kết quả cho Chúa, và với niềm hoan lạc trong Thần Khí, kí thác mọi ưu tư vào tay Chúa. Khi tìm thành công cho riêng mình, chức linh mục bắt đầu hiện ra như một gánh nặng vượt sức, và hệ quả tất yếu là những gánh nặng quá sức đè trên vai ta. Nhưng Đức Kitô mang lấy chúng ta trong đức tin; và từ sự hiệp nhất với Đức Kitô, một niềm vui bất khuất phát sinh—niềm vui đến từ chiến thắng của Đức Kitô, Đấng đã thắng thế gian (Ga 16,33) và ở cùng chúng ta mọi ngày cho đến tận thế (Mt 28,20).
Từ hiệp thông thâm sâu với Đức Kitô cũng tự nhiên nảy sinh sự thông phần vào tình yêu của Người đối với con người, vào ý muốn cứu độ và nâng đỡ họ. Ai biết Đức Kitô từ bên trong thì ước ao thông truyền cho người khác niềm vui ơn cứu chuộc vốn đã mở ra cho mình nơi Chúa. Mục vụ chảy trực tiếp từ hiệp thông tình yêu này, và ngay cả giữa cảnh khó, vẫn luôn được nuôi dưỡng bởi động lực ấy và trở nên viên mãn đời sống.
Trọng kính Đức cha, quý cha và quý thầy, mỗi người chúng ta được mời gọi cần nhìn lại và có sự thay đổi để đúng với ơn gọi và sứ vụ của mình. Chắc hẳn các đấng đã đọc bài viết
10 thay đổi không tưởng mà ĐGH Lêô 14 đã thực hiện trong 3 tuần qua
Thứ năm - 05/06/2025 15:11 539
1. Các giám mục đi chân trần: Bước đi trong hoàn cảnh của dân chúng
Đức Giáo hoàng Leo 14 yêu cầu mọi giám mục trên toàn thế giới – hàng ngàn người – phải đi chân trần trong ít nhất một cuộc rước công khai mỗi năm. Không phải trong những nhà thờ lộng lẫy dành cho giới thượng lưu, mà trên những con phố nơi người vô gia cư ngủ, trẻ em chơi đùa, và những con người thật đang sống cuộc đời thật.
2. Đối thoại liên tôn: Xây cầu thay vì dựng tường
3. Trang phục giản dị: Để trái tim lên tiếng
Đức Giáo hoàng Leo 14 bắt đầu mặc trang phục đơn giản hơn: ít vàng, thánh giá nhỏ hơn, áo choàng trắng mộc mạc thay vì những bộ lễ phục lộng lẫy thường thấy. Trong các nghi lễ trang trọng, ngài vẫn giữ truyền thống, nhưng trong các sự kiện thông thường, ngài trông giống một linh mục bình thường hơn là vị lãnh đạo tôn giáo quyền lực nhất thế giới. Khi các nhiếp ảnh gia cố chụp cận cảnh trang phục của ngài, ngài yêu cầu họ dừng lại. Khi được hỏi tại sao chọn áo choàng đơn giản cho một thánh lễ lớn, ngài đáp: “Con người khao khát sự thật, không phải vải vóc.”
4. Mở cửa vườn Vatican: Nơi người vô gia cư tìm thấy an toàn
5. Ngôn ngữ hòa nhập: Để mọi trái tim được chào đón
6. Sáng kiến Vatican Xanh: Bảo vệ ngôi nhà chung
7. Trao quyền cho giáo phận: Lắng nghe từ trái tim
Ngài giải thích: “Bạn không thể dẫn dắt một ngôi làng từ ban công ở Roma. Bạn phải đủ gần để nghe tiếng nói của họ.”
8. Minh bạch tài chính: Sự thật trên bàn thờ
9. Lắng nghe giới trẻ: Một Giáo hội trường tồn
ngài nói: “Chúng ta thường giảng dạy giới trẻ mà không hỏi họ thấy gì, cảm gì, hay hy vọng gì. Chúng ta không thể dẫn dắt họ nếu không lắng nghe họ.”
10. Bí tích Hòa giải: Nơi linh hồn học cách thở lại
 Tất cả những thay đổi này không chỉ là chính sách hành chính, mà là hiện thân của một cuộc đời tận hiến cho sự khiêm nhường, phục vụ và đức tin. Mỗi quyết định đều bắt nguồn từ những trải nghiệm thực, những khoảnh khắc mà một linh mục trẻ tên Robert học được điều gì đó khắc sâu mãi mãi. Đức Giáo hoàng Leo 14 không cố phá bỏ truyền thống, mà đang trở về với truyền thống nguyên thủy của Chúa Giêsu: bước đi cùng người nghèo, chăm sóc kẻ bị bỏ rơi, sống giản dị, nói sự thật, bảo vệ tạo vật, và xây cầu thay vì dựng tường.
Tác giả: Lm. Anmai, CSsR tổng hợp

Kính thưa quý Đấng bậc, chúng ta cần thay đổi vì đó là điều mà Chúa, Giáo Hội và mọi người đang cầu nguyện và mong chờ. Tại giáo xứ của con, vào thứ năm đầu tháng, sau khi Chầu Thánh Thể thì người ta đọc kinh Thầy Cả Thượng Phẩm mà con nghe thấy thật xúc động và giật mình:
Lậy Chúa Giê-su là Thầy cả thượng phẩm vĩnh viễn đời đời, là đấng tế lễ có tính Thiên Chúa bởi trái tim Chúa nồng nàn yêu dấu loài người chúng con, Chúa đã đặt ra chức vụ linh mục công giáo, để các ngài chuyên lo việc cứu rỗi chúng con, xin Chúa ban thêm linh mục cho chúng con, Xin Chúa ban cho chúng con những linh mục thánh thiện, nhiệt thành kính mến Thánh Tâm Chúa, nên giống ảnh tượng Chúa, nên những người thợ xứng đáng làm vượn nho Chúa, người thợ thật khiêm nhường, hiền lành biết nhịn nhục, đầy lòng sốt sáng tràn trề lửa mến, để các linh mục luôn luôn khêu gợi lửa mến đốt trong tâm hồn chúng con, xin Chúa lấy lửa của trái tim Chúa đốt lòng các linh mục cho nên mới, để từ nay các Linh Mục không lo gì khác, một lo cổ động vinh danh Chúa, và chinh phục cho Chúa các linh hồn Chúa đã lấy Máu châu báu Chúa mà cứu chuộc, chúng con nài xin Chúa ban cho chúng con những ơn cần thiết ấy, để nước Chúa trị đến, để vinh danh Chúa, và hạnh phúc cho chúng con đời đời Amen
 Tĩnh Tâm là thời gian ta cần nhìn lại và thay đổi. Trong giây phút này, mỗi người chúng ta hãy đặt mình trước mặt Chúa và thành tâm tự hỏi:
Câu hỏi:

  1. Tôi đã thi hành sứ vụ linh mục của tôi thế nào? Có giống với Chúa Giêsu không?

  2. Tôi có cần phải thay đổi điều gì không?

 


[1] Ibid, số 452.

[2] Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên Ngôn Dominus Ieus, số 10

[3] Walter Kasper, Jesus The Christ, (New York: Paulist Press, 1977),197.

[4] Công Đồng Vaticano II, Hiến Chế Gaudium et Spes, 22.

[5]Ibid, 80.

[6] Fernando Ocáriz- Lucas F. Mateo Seco- Jose Antonio Riestra, Sđd, 216.

[7] Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, số 481.

[8] Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, số 464.

[9] Sách Giáo Lý Của Hội Thánh Công Giáo, số 464.

[10] Ibid, 296.

[11] Fernando Ocáriz- Lucas F. Mateo Seco- Jose Antonio Riestra, Sđd, 98-99.

[12] Bùi Văn Đọc, Sđd, 39.

[13] Gerard O'Collins, SJ, Sđd, 187.

[14] Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 565.

 

Tác giả: Lm. Giuse Phạm Văn Quý

Copyright © 2022 thuộc về Tòa Giám Mục Bùi Chu
   Phụ trách: Ban Truyền Thông Giáo Phận Bùi Chu
Địa chỉ: Xuân Ngọc - Xuân Trường - Nam Định

Email: bttbuichu@gmail.com

Chúng tôi trên mạng xã hội

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây