Chỉ còn ít năm nữa, Giáo Hội Việt Nam sẽ kỷ niệm 500 năm hạt giống Tin Mừng được gieo vãi trên mảnh đất Việt Nam Đây là cột mốc quan trọng để nhìn về quá khứ với lòng biết ơn, sống hiện tại với lòng say mê, ôm ấp tương lai với niềm hy vọng. Mỗi kitô hữu là một môn đệ thừa sai và mang trong mình sứ mệnh cao cả: “Linh mục, tu sĩ nam nữ, giáo dân đều được chuẩn bị và đào tạo theo hoàn cảnh riêng của mỗi người để khỏi thiếu những khả năng đáp ứng với những đòi hỏi của công việc mai sau”. Đồng hành với Giáo Hội Việt Nam trong định hướng mục vụ ba năm 2026–2028 là lời mời gọi Loan báo Tin Mừng. Để thực hiện sứ mạng này, Giáo Hội đã và đang nhận được biết bao nỗ lực, hy sinh và sự dấn thân âm thầm của các linh mục, tu sĩ và giáo dân. Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng, vẫn còn đó những “điểm tối”, những yếu tố âm thầm cản trở hoặc làm chậm lại bước tiến của công cuộc truyền giáo. Nhìn nhận những trở ngại ấy không phải để phê phán hay quy trách nhiệm cho một cá nhân hoặc một thành phần nào, nhưng để có một cái nhìn khách quan, thành thật và trưởng thành hơn về thực trạng truyền giáo.
Điều đáng nói là những yếu tố cản trở truyền giáo thường không xuất hiện dưới những hình thức rõ ràng. Chúng có thể ẩn sâu trong tư duy, thói quen, cách ứng xử và cả trong những điều tưởng như rất “chính đáng” hay “phải đạo”. Một hoạt động đạo đức bên ngoài chưa chắc đã là truyền giáo đúng nghĩa nếu thiếu tinh thần Tin Mừng. Một chương trình đông người chưa chắc đã tạo nên sự hiệp thông. Một thành tích mục vụ chưa chắc đồng nghĩa với một mùa gặt thiêng liêng. Không dễ để nhận ra những yếu tố cản trở truyền giáo vì nó ẩn sâu bên trong tư duy con người và được biện minh bởi hàng ngàn lý do “chính đáng” và “phải đạo”. Có thể nhận diện bốn yếu tố đáng lưu tâm: Chủ nghĩa giáo sĩ, truyền giáo theo ý riêng, cộng tác nửa vời và thiếu cập nhật kiến thức truyền giáo .
1. CHỦ NGHĨA GIÁO SĨ – KHI QUYỀN HÀNH LẤN ÁT TINH THẦN PHỤC VỤ
Chủ nghĩa giáo sĩ (Clericalism) là tình trạng quá đề cao vai trò của giáo sĩ hoặc tu sĩ đến mức làm lệch lạc, thậm chí làm lu mờ căn tính của người môn đệ Chúa Giêsu. Đó là khi người ta chú trọng đến vị trí, quyền hạn, chức vụ và sự phân biệt hơn là căn tính chung của tất cả những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Chủ nghĩa giáo sĩ không chỉ là vấn đề của riêng hàng giáo sĩ hay tu sĩ. Bất cứ ai có khuynh hướng thích quyền hành, tìm kiếm sự an toàn hơn là dấn thân, thích được nhìn nhận, thích phô trương thành tích hoặc coi trọng địa vị đều có nguy cơ “nhiễm bệnh” này.
Đây là một trong những yếu tố nguy hiểm nhất đối với đời sống Giáo Hội, bởi nó không chỉ làm tổn thương nhân cách Kitô hữu mà còn làm giảm thiểu và hạ thấp giá trị của ơn Bí tích Rửa tội, qua đó hạn chế sự tham gia tích cực của giáo dân vào sứ mạng loan báo Tin Mừng.
Tất cả giáo sĩ/tu sĩ và giáo dân cần sám hối và cầu nguyện “giúp đôi mắt và cõi lòng hướng đến những đau khổ của tha nhân và chế ngự lòng khao khát quyền lực và của cải, vốn là căn nguyên sinh ra tội lỗi xấu xa này”. Các Linh mục được mời gọi dành một vị trí ưu tiên cho mục vụ gia đình, quan tâm việc giáo dục giới tính cho người trẻ, việc chuẩn bị hôn nhân, đồng hành với các đôi vợ chồng trẻ, thăm viếng những gia đình đang gặp khó khăn, khuyến khích việc cầu nguyện, đọc Lời Chúa và sống đức tin trong gia đình.Chẳng ai được Rửa tội để thành Linh mục hay Giám mục nhưng trở thành Kitô hữu. Bởi thế, thay vì đứng ngoài hoặc phó mặc công việc truyền giáo cho hàng giáo sĩ, người giáo dân được mời gọi cộng tác tích cực với các linh mục, nhất là trong những môi trường mà họ đang hiện diện: gia đình, nơi làm việc, trường học, xã hội và các mối tương quan hằng ngày.
2. TRUYỀN GIÁO THEO Ý RIÊNG – KHI SỨ MẠNG CỦA CHÚA TRỞ THÀNH “DỰ ÁN” CÁ NHÂN
Truyền giáo không phải là tổng số các hoạt động sôi nổi sầm uất và mau qua nhưng là kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được chuẩn bị kỹ lưỡng qua thời gian. Truyền giáo theo ý riêng là “mạnh ai nấy làm” và không bám sát giáo huấn của Hội Thánh, chỉ mang tính chất nhất thời, cơ hội vì lợi ích cá nhân, phá vỡ sự hiệp thông trong Hội Thánh. Về bản chất, truyền giáo thuộc về Thiên Chúa và có mục đích làm vinh danh Ngài. Truyền giáo theo ý riêng cho thấy người môn đệ đang thi hành “sứ mệnh” của ai đó chứ không phải sứ mệnh Đức Kitô trao cho Hội Thánh.
Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy là chủ nghĩa giáo sĩ, tâm lý chạy theo hình thức và khuynh hướng đánh giá thành công bằng số lượng: bao nhiêu người tham dự, bao nhiêu chương trình được tổ chức, bao nhiêu hoạt động được thực hiện. Những con số ấy có thể cần thiết, nhưng không thể là thước đo duy nhất. Trong cánh đồng truyền giáo, “cỏ lùng” có thể mọc xen với “lúa”. Nó không phải lúc nào cũng dễ nhận ra, bởi đôi khi cỏ lùng mang dáng vẻ rất đẹp của những hoạt động đạo đức, những chương trình lớn hay những thành tích đáng tự hào. Nhưng nếu không được nhận diện, nó có thể hút mất nguồn lực và làm cho cây lúa Tin Mừng khó lớn lên.
Con đường để tránh truyền giáo theo ý riêng trước hết là trở về với cầu nguyện và Lời Chúa, biết lắng nghe, phân định. Cần giảm bớt những hình thức rườm rà nếu chúng không thực sự phục vụ Tin Mừng, đồng thời đặt mọi sáng kiến cá nhân trong sự hiệp thông và hướng dẫn của Hội Thánh.
3. CỘNG TÁC NỬA VỜI – KHI NGƯỜI MÔN ĐỆ CHƯA DÁM TRAO TRỌN MÌNH CHO SỨ MẠNG
Cộng tác nửa vời được hiểu là tình trạng dấn thân cầm chừng, không dứt khoát của người môn đệ. Cộng tác nửa vời không thể đưa ra những ý tưởng lớn cũng như những kế hoạch truyền giáo mang tính vĩ mô và lâu dài, thay vào đó chỉ là những hoạt động sầm uất, ngắn hạn và nhất thời. Nó bắt nguồn từ sự ích kỷ, tâm lý an toàn của con người khiến kế hoạch chung của cộng đoàn bị chia nhỏ, làm suy yếu sức mạnh hiệp thông và cản trở Hội Thánh thực hiện đầy đủ tính công giáo của mình. Một người làm việc một mình có thể tạo nên một hoạt động. Nhưng một cộng đoàn biết cùng nhau dấn thân mới có thể xây dựng một hướng đi truyền giáo lâu dài.
Chủ nghĩa giáo sĩ vì “quá quan tâm đến lãnh vực thống trị hơn là tạo ra các sáng kiến” nên không nhận ra nhiệm vụ của mình là giúp các tín hữu “chu toàn bổn phận kitô hữu mà họ đang sống và dấn thân trong chính môi trường của họ”.Truyền giáo đích thực không phải là một người làm tất cả, nhưng là mọi người cùng nhận ra phần việc của mình trong sứ mạng chung. Do đó, cần vượt qua não trạng cục bộ, tư lợi và chủ nghĩa quyền lực. Cần học cách lắng nghe nhau, tin tưởng nhau, trao trách nhiệm cho nhau và cùng nhau chịu trách nhiệm. Lời Thánh Phaolô vẫn mang tính thời sự: “Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói, đừng có sự chia rẽ giữa anh em, nhưng hãy sống hòa thuận một lòng một ý với nhau” (1Cr 1,10).
4. THIẾU CẬP NHẬT KIẾN THỨC – KHI NHIỆT TÌNH KHÔNG ĐI CÙNG HIỂU BIẾT
Một trở ngại khác không thể xem nhẹ là sự thiếu cập nhật kiến thức về truyền giáo. Trong thực tế, quan niệm về truyền giáo của không ít tín hữu Việt Nam vẫn còn chịu ảnh hưởng của cách hiểu trước Công đồng Vatican II: truyền giáo được đồng nhất với việc đưa người khác vào đạo, đặc biệt là việc Rửa tội. Vì thế, khi gặp câu hỏi của những người chưa biết Chúa: “Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, vậy tại sao tôi phải theo Công giáo?”, nhiều người Kitô hữu trở nên lúng túng vì chưa được trang bị đầy đủ nền tảng thần học, Kinh Thánh và phương pháp truyền giáo để có thể đối thoại cách bình tĩnh, thuyết phục và tôn trọng.
Cùng với Giáo Hội, chúng ta được mời gọi khám phá ra những góc nhìn mới, phương cách mới thích hợp với tính nhạy bén của thời đại, xây dựng nền tảng đức tin theo “điệu nhảy” của Thánh Thần trong môi trường văn hóa phức tạp như hiện nay như lời xác quyết của Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: “Đức tin mà chưa biến thành văn hóa là đức tin chưa được đón nhận trọn vẹn, chưa thực sự suy tư, chưa sống một cách chân thành”.
Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, khi còn là Giám Mục giáo phận Nha Trang, đã viết chỉ dẫn về truyền giáo như sau: “Những nỗ lực hoạt động, cầu nguyện sẽ không mang lại kết qủa nếu chúng ta không được hướng dẫn bằng một tinh thần mới, một bầu nhiệt huyết tông đồ. Bất cứ lúc nào tiếp xúc với lương dân, với một bầu nhiệt huyết tông đồ, anh chị em hãy luôn luôn nhớ rằng: Tinh thần truyền giáo không phải là óc chinh phục mà là lòng yêu thương. Tinh thần truyền giáo không phải là óc cai trị, mà là tinh thần phục vụ mọi người. Tinh thần truyền giáo không phải là đạo binh thánh gía, dùng vũ lực để đánh ngã, nhưng là tinh thần chứng nhân, lấy đời sống mà làm chứng tích. Tinh thần truyền giáo không phải là óc tự cao tự đại, nhưng là thái độ đối thoại, là tinh thần trao đổi và tôn trọng các tôn giáo khác. Tinh thần truyền giáo không phải là mãnh lực của tiền tài, quyền thế mà là tinh thần tương trợ. Tinh thần truyền giáo không phải là thủ đoạn chiến lược, nhưng là tấm lòng chân thành đơn sơ. Tinh thần truyền giáo không bao giờ chán nản, vì trở ngại, vì vô ơn, vì phản bội, vì thất bại, ngược lại luôn luôn tin cậy vào ơn Chúa và nhẫn nại”.
Tóm lại, bốn yếu tố trên không phải là những vấn đề xa lạ hay chỉ tồn tại nơi một thành phần nào trong Giáo Hội. Chúng có thể hiện diện nơi mỗi người chúng ta, dưới những mức độ khác nhau. Người truyền giáo có thể vô tình trở thành người mắc bệnh quyền lực. Người nhiệt tình có thể biến sứ mạng của Chúa thành dự án riêng. Người được mời gọi cộng tác có thể chỉ dấn thân khi thuận tiện cho mình. Người yêu mến Chúa có thể rất nhiệt thành nhưng lại thiếu kiến thức để diễn tả đức tin một cách phù hợp với con người hôm nay.
Sau gần 500 năm hạt giống Tin Mừng được gieo trên đất Việt, câu hỏi hôm nay không chỉ là: chúng ta đã xây dựng được bao nhiêu công trình, tổ chức bao nhiêu chương trình hay có bao nhiêu người tham dự? Câu hỏi sâu xa hơn phải là: Hạt giống Tin Mừng ấy đã thực sự bén rễ trong chính đời sống chúng ta chưa? Và từ nơi chúng ta, hạt giống ấy có đang tiếp tục được gieo vào những mảnh đất mới hay không?
Tự đào luyện mình trở nên những người thợ “lành nghề” trên cánh đồng truyền giáo không phải là làm cho mình phong phú về kiến thức, dày dạn về kinh nghiệm hay cao trọng về chức vụ và quyền hành nhưng là làm cho mình hiểu Chúa hơn, yêu và theo sát Ngài hơn trong hành trình sứ mệnh. Tự đào luyện không phải để có nhiều sinh họat tôn giáo sầm uất nhưng để có nhiều sinh hoạt thầm lặng, sâu lắng và theo ý của Thiên Chúa qua hướng dẫn của Giáo Hội, không phải để “ngồi” tại chỗ ban phát những lời hay ý đẹp nhưng để “đứng dậy” và “bước đi” đến vùng ngoại biên của cuộc sống và gặp gỡ anh chị mình ở đó.
Hy vọng những thao thức truyền giáo khởi sự từ nội tại và được hiện thực hóa nơi Trí – Tâm – Tay (Head – Heart – Hand): Trí để hiểu biết, Tâm để yêu mến và Tay để phục vụ ngõ hầu niềm vui Tin Mừng đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp Chúa Giêsu .
Tiểu Nhị, CMR.