
Là giao ước mới và vĩnh cửu, Bí tích Thánh Thể là lời đáp trả cho những mong đợi của giao ước đầu tiên và là khởi đầu cho sự hiệp thông trọn vẹn của Thiên Chúa với dân Ngài, khởi đầu nơi Chúa Kitô Phục Sinh và được mong đợi trong sự chín muồi cuối cùng vào thời sau hết. Chính thực tại năng động, độc đáo và đa phức này mà Giáo Hội liên tục quy chiếu qua việc cử hành phụng vụ: “khi kính nhớ cuộc khổ hình sinh ơn cứu độ, sự sống lại và lên trời vinh hiển của Con Chúa, đồng thời mong đợi Người lại đến, chúng con dâng lên Chúa hy lễ hằng sống và thánh thiện này để tạ ơn Chúa”[1].
- Với Bí tích Thánh Thể, Giáo Hội hội nhập vào lịch sử cứu độ. Thật vậy, Giáo Hội luôn đặt việc cử hành Thánh Thể trong mối liên hệ mật thiết với cuộc vượt qua và sự quang lâm vinh hiển của Chúa: “mỗi lần ăn Bánh và uống Chén này, là anh em loan truyền Chúa đã chịu chết, cho tới khi Chúa lại đến” (1 Cr 11,26). Những lời của Thánh Tông đồ không chỉ đơn thuần diễn tả một dấu chỉ thời gian, nhưng diễn tả sự hiện diện của Đấng Phục Sinh nơi bàn tiệc vui mừng tiếp nối từ sự kiện vượt qua đến lúc quang lâm vinh hiển của Người. Lễ Vượt Qua, Thánh Thể và cánh chung là những sự kiện tương tác, tạo nên thế giằng co và đợi chờ của toàn thể đời sống Giáo Hội. Lời kinh cổ xưa có nguồn gốc phụng vụ “Maranatha-Lạy Chúa xin ngự đến” (1 Cr 16,22; Kh 22,20; Didachè 10,26) diễn tả điều này. Các giáo phụ diễn tả sự hội nhập của Giáo Hội vào dòng chảy năng động của lịch sử cứu độ qua Bí tích Thánh Thể bằng những thuật ngữ chuyên biệt như umbra (tiên trưng), imago (hình ảnh) và veritas (đích thực): Bí tích Thánh Thể làm cho Giáo Hội tiến lại gần hơn với Chúa Kitô, vượt qua những hình bóng và hình ảnh để tiến đến sự hiện diện thực sự[2].
Nhiều yếu tố nghi lễ và kinh nguyện Thánh Thể đã làm nổi bật vị trí trung gian của Giáo Hội lữ hành, theo đó, cộng đoàn phụng vụ được quy tụ đóng vai trò quan trọng. Đây là dấu chỉ bí tích của dân được Thiên Chúa kêu gọi từ mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ (Kh 7,9-10); đồng thời, là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Lời tung hô sau trình thuật Thánh Thể bày tỏ đức tin và sự kinh ngạc trước sự hiện diện huyền nhiệm của Chúa Kitô Phục Sinh, Đấng báo trước cuộc gặp gỡ trực tiếp với bạn hữu của Người (22,4-5). Do đó, việc cử hành Thánh Thể là sự mạc khải của Giáo Hội về chính mình, như một mầu nhiệm hiệp thông với Chúa trong tiến trình lịch sử. Giáo Hội không thể được hiểu nếu không gắn bó liên tục với Thánh Thể và phụng vụ như một tổng thể; đồng thời phụng vụ cũng không thể được hiểu nếu không nằm trong mầu nhiệm Giáo Hội. Thật vậy, phụng vụ không chỉ là sự biểu lộ bản chất sâu xa nhất của Giáo Hội, mà còn là một yếu tố cấu thành nên bản chất ấy.
- Giáo Hội và Thánh Thể có mối liên hệ nội tại, vì “Giáo Hội luôn sống động và tăng triển” (GH 26) từ đó. Thật vậy, hy lễ của cộng đoàn Giáo Hội cấu thành bởi chính cuộc sống hằng ngày được sống trong Thánh Thần, được tháp nhập vào Chúa Kitô linh mục và tiếp nối những gì đã xảy ra nơi Người. Với tư cách này, họ trở thành vương quốc của Thiên Chúa và được mời gọi đóng góp tích cực vào sự phát triển của vương quốc ấy. Giáo Hội sẽ tiếp tục cử hành Thánh Thể cho đến khi trở nên đồng hình đồng dạng với Chúa Kitô. Thánh Augustinô đã nói:
Toàn thể thành đô được cứu chuộc, tức là cộng đoàn các thánh, dâng lên Thiên Chúa như một hy lễ phổ quát, qua trung gian vị thượng tế, Đấng trong cuộc khổ nạn đã hiến dâng chính mình dưới hình hài một người tôi tớ, để chúng ta có thể trở thành thân thể của một Thủ lãnh vĩ đại như vậy. […] Và hy lễ này là chính chúng ta. […] Đây là hy lễ của các Kitô hữu: tuy nhiều người, nhưng chỉ là một thân thể trong Đức Kitô. Giáo Hội cử hành mầu nhiệm này với bí tích bàn thờ, mà các tín hữu đã biết, vì trong bí tích này, Giáo Hội được mạc khải rằng trong những gì mình dâng hiến, chính mình cũng được hiến dâng[3].
Từ viễn tượng này, mối tương quan giữa Giáo Hội và Thánh Thể cho thấy tất cả sự phong phú về mặt thần học cũng như chiều sâu về đời sống thiêng và mục vụ. Công đồng Vaticanô II đề xuất một nền Giáo Hội học và thần học bí tích mới mẻ trong phạm trù mầu nhiệm cứu độ. Đặt Bí tích Thánh Thể vào trung tâm đời sống Giáo Hội là thực hiện một hoạt động có ý nghĩa hơn nhiều so với việc chỉ đơn thuần mở rộng phạm vi nghi lễ. Đối với chúng ta, nó cấu thành một “cuộc hoán cải phụng tự” đích thực. Đặt Bí tích Thánh Thể làm trung tâm của đời sống có nghĩa là thâm nhập vào mầu nhiệm vượt qua, để tìm thấy ý nghĩa và hành động theo sức mạnh của Thánh Thần, Đấng lôi kéo chúng ta vào chuyển động của sự vâng phục và mở rộng tâm hồn, như một người con với tình yêu của Cha trên trời.
- Bí tích Thánh Thể là trung tâm của sự hiệp thông Giáo Hội. Trong số nhiều hình ảnh về Giáo Hội, Công đồng Vaticanô II đã chọn hình ảnh diễn tả toàn bộ thực tại của Giáo Hội, đó là mầu nhiệm. Trên hết, Giáo Hội là mầu nhiệm của cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và nhân loại; vì thế, Giáo Hội là Hiền Thê và Nhiệm Thể Chúa Kitô, là Dân Thiên Chúa và là Mẹ. Mối tương quan hỗ tương giữa phép Thánh Thể và Giáo Hội cho phép chúng ta áp dụng cho các yếu tố của Kinh Tin Kính: duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền, điều mà Thông điệp Ecclesia de Eucharistia đã minh hoạ rõ ràng:
Bí tích Thánh Thể xây dựng Giáo Hội và Giáo Hội làm nên Bí tích Thánh Thể, vì thế mối liên hệ giữa hai điều này là rất mật thiết. Điều này chính xác đến nỗi cho phép chúng ta áp dụng vào Mầu Nhiệm Thánh Thể những gì chúng ta nói về Giáo Hội khi chúng ta tuyên xưng Giáo Hội là “duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền” trong Kinh Tin Kính Nicêa-Constantinôpôli[4].
Bí tích Thánh Thể xây dựng Giáo Hội và Giáo Hội là nơi thực hiện sự hiệp thông với Thiên Chúa và giữa con người. Giáo Hội nhìn nhận Thánh Thể là bí tích của sự hiệp nhất và thánh thiện, của tính tông truyền và tính công giáo, một bí tích thiết yếu cho Giáo Hội, Hiền Thê của Chúa Kitô và Thân Thể Người. Đặc điểm của Giáo Hội cũng là những mối dây hiệp thông công giáo, cho phép cử hành Thánh Thể một cách chính đáng. Đức Gioan Phaolô II đã nhắc lại rằng “Giáo Hội là Thân Thể Chúa Kitô: chúng ta cùng tiến bước với Chúa Kitô, nghĩa là chúng ta là phần thân thể của Người”[5]. Chính tại đây, việc tuân giữ các quy định và nghi thức cử hành tìm thấy ý nghĩa thực sự của chúng: vâng phục Chúa Kitô từ phía Giáo Hội, Hiền Thê của Người.
Henri de Lubac đã nói: “Giáo Hội làm nên Thánh Thể và Thánh Thể làm nên Giáo Hội”[6]. Mặc dù cả hai đều được Chúa Kitô thiết lập vì lợi ích của nhau, nhưng hai thuật ngữ của câu châm ngôn nổi tiếng này không tương đương nhau. Thực vậy, nếu Thánh Thể làm cho Giáo Hội phát triển nhờ Chúa Kitô hằng sống hiện diện trong bí tích, thì ngay cả trước đó, Người đã muốn Giáo Hội cử hành Thánh Thể. Về mặt tiêu cực, không có Bí tích Thánh Thể nếu không có Giáo Hội và không có Giáo Hội nếu không có Bí tích Thánh Thể. Về mặt tích cực, Bí tích Thánh Thể bộc lộ, xây dựng và định hình Giáo Hội, trong khi Giáo Hội cử hành, hiện thực hoá và sống Bí tích Thánh Thể. Nhờ việc tham dự vào Thánh Thể, Giáo Hội hoàn thành chính mình. Cũng như một Giáo Hội không có Thánh Thể là điều không thể, thì một Bí tích Thánh Thể mà không có Giáo Hội cũng là điều không thể. Rước Mình Thánh Chúa thôi chưa đủ, phải trở nên Thân Thể Chúa Kitô, tức là Giáo Hội. Mỗi cử hành Thánh Thể đều kêu gọi và đòi hỏi sự toàn vẹn của cộng đoàn Giáo Hội.
Câu châm ngôn của Lubac tái xuất hiện trong tác phẩm Méditation sur l’Église, đưa ra một suy tư mới về mầu nhiệm Giáo Hội, theo đó chính “Giáo Hội làm nên Bí tích Thánh Thể, nhưng cũng chính Bí tích Thánh Thể làm nên Giáo Hội”[7]. Trọng tâm của Giáo Hội học là giáo thuyết về Nhiệm Thể Chúa Kitô, là “nền tảng của suy tư thần học về Giáo Hội Chúa Kitô”. Lubac ủng hộ mạnh mẽ khái niệm này, mặc dù thừa nhận tầm quan trọng của khái niệm Giáo Hội là dân Thiên Chúa, theo ngài nó quá ngoại tại, mang tính thể chế và pháp lý, trong khi khái niệm “Thân Thể Chúa Kitô” mới là khái niệm đặc biệt dùng để chỉ Giáo Hội. Dĩ nhiên, tính từ “mầu nhiệm” không phải đến từ Phaolô, nhưng nó chỉ ra rằng toàn thể Giáo Hội là mầu nhiệm và do đó gói gọn tư tưởng của Phaolô, điều đã đưa Giáo Hội và “mầu nhiệm” lại gần nhau đến mức khiến cái trước trở thành nội dung cụ thể của cái sau. Do đó phải nói rằng “không gì đẹp đẽ hơn, tuyệt vời hơn, thánh thiêng hơn, có thể tìm thấy ngoài cách diễn đạt này, cách diễn đạt biểu thị về Nhiệm Thể Chúa Kitô”[8].
Mối liên hệ giữa Chúa Kitô và Giáo Hội mạnh mẽ đến nỗi cả hai đều chia sẻ “một mối quan hệ nhất định về căn tính huyền nhiệm”[9]; theo Thánh Phaolô được Lubac diễn giải, có một sự “đồng nhất huyền nhiệm”[10] giữa hai bên. Giáo Hội không phải là vương quốc hay nhiệm thể trong hình thức cuối cùng, mặc dù Giáo Hội thực sự là thân thể có sự thánh thiện toả sáng qua tính hữu hình[11]. Đó là bí tích của Chúa Kitô, nghĩa là nó làm cho Người thực sự hiện diện để tiếp tục công trình cứu độ[12]. Thực vậy, Giáo Hội hiện diện là vương quốc Chúa Kitô, dù chưa đạt tới mức viên mãn, Giáo Hội trên trần gian là Thân thể Chúa Kitô và nhiệm thể của Người: Corpus Christi, quod est Ecclesia[13]. Chính từ góc nhìn này mà chúng ta hiểu về các bí tích nói chung và Bí tích Thánh Thể nói riêng. Do đó, chính từ Giáo Hội mà các bí tích có được hiệu quả của chúng và chính vì Giáo Hội mà hiệu quả này được giao phó cho chúng[14].
Khái niệm Giáo Hội làm nên Bí tích Thánh Thể cho thấy Giáo Hội sống đúng bản chất của mình trong các bí tích. Qua việc cử hành mầu nhiệm, Giáo Hội thực sự tự thể hiện mình. Tư tưởng này rất gần với tư tưởng của K. Rahner[15]. Cho dù Chúa Kitô là tư tế đích thực và duy nhất, nhưng trong các hành vi bí tích thể hiện trong phụng vụ, đặc biệt trong Bí tích Thánh Thể, linh mục cử hành việc thờ phượng Chúa, đại diện Chúa Kitô trong tư cách của Người: in persona Christi, “chính Đấng xưa đã tự hiến mình trên thập giá, nay cũng đang dâng hiến nhờ tác vụ của các linh mục” (PV 7). Vào thời Trung cổ, thuật ngữ Corpus Mysticum-Nhiệm Thể bắt đầu ám chỉ Giáo Hội và ngày nay được áp dụng cho Bí tích Thánh Thể. Sự thay đổi ý nghĩa này minh hoạ cho mối liên hệ chặt chẽ giữa Bí tích Thánh Thể và Giáo Hội, thực tại tối hậu của bí tích này. Câu châm ngôn của Lubac kết nối những yếu tố này trong một công thức vang vọng sâu sắc. Công đồng Vaticanô II cũng nhấn mạnh chiều kích Giáo Hội của các bí tích và chỉ ra Thánh Thể là bí tích biểu thị sự hoàn hảo và hiện thực hoá cách đáng ngưỡng mộ sự hiệp nhất của dân Thiên Chúa[16].
Thực ra truyền thống Giáo Hội ngay từ đầu đã minh định mối tương quan không thể tách rời giữa Thánh Thể và Giáo Hội, như sách Didascalia apostolorum đã chứng thực: “Hãy dạy dân chúng những giới răn và lời khuyên nhủ để biết tham dự thánh lễ thường xuyên và đừng bao giờ bỏ bê việc hội họp; hãy luôn hiện diện và đừng làm suy yếu Giáo Hội vì không đến nhóm họp và khiến thân thể của Chúa Kitô thiếu mất một chi thể… Vì anh em có Chúa Kitô làm đầu theo lời hứa của Người, hiện diện và hiệp thông với anh em, nên anh em đừng khinh thường chính mình và đừng tước mất của Chúa Kitô các chi thể của Người; đừng xé nát thân thể Người, đừng phân tán nó” (II, 59, 1-2).
Trước hết, Bí tích Thánh Thể thiết lập Giáo Hội như cộng đoàn đức tin. Đôi khi đức tin bị sự sợ hãi xâm chiếm hơn là tình yêu: Thiên Chúa được trình bày như vị thẩm phán báo thù, thay vì một người Cha nhân ái. Ý tưởng về một đức tin được tạo thành từ các nghi lễ và lề luật đã lan rộng và đối với nhiều người, thánh lễ ngày Chúa nhật đã trở thành một “khoản thuế” phải trả, một nghĩa vụ phải chu toàn, một giới luật phải tuân giữ. Thay vào đó, đức tin luôn là một cuộc gặp gỡ và Bí tích Thánh Thể là một cuộc gặp gỡ chân thực và thực tế nhất với Chúa. Thứ đến, Bí tích Thánh Thể làm cho Giáo Hội trở thành một cộng đoàn hy vọng: không chỉ tưởng niệm cuộc vượt qua của Chúa Giêsu mà còn là sự hiện diện báo trước hồng ân chung cuộc, “cho đến khi Người lại đến”, là sự hiệp thông với Đấng sẽ đến, “Đấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27). Giáo Hội được hình thành bởi Bí tích Thánh Thể, trở thành một Giáo Hội của niềm hy vọng. Trong Bí tích Thánh Thể, thời gian và vĩnh cửu gặp gỡ và gợi nhớ lẫn nhau, đặc biệt khi liên hệ đến Giáo Hội là cộng đoàn đã có và chưa hoàn tất. Sau cùng, Bí tích Thánh Thể làm cho Giáo Hội thành một cộng đoàn bác ái yêu thương: trở nên một thân thể, điều vô hình trở nên hữu hình, điều bất khả phân chia trở thành điều có thể chia sẻ, Đấng duy nhất có thể vượt qua mọi rào cản của không gian và thời gian, để Hiền Thê của Người được say đắm trong khoảnh khắc tình yêu ngất ngây. Như vậy, Bí tích Thánh Thể tạo thành sự hiệp nhất hoàn hảo của đức tin, đức cậy và đức mến.
Lm. Giuse Phạm Quốc Điêm
Trích trong Bí tích Thánh Thể, sách đang chờ xuất bản
----------------------
[1] Kinh nguyện Thánh Thể III.
[2] Cf. H. de Lubac, Corpus mysticum, Gribaudi, Torino 1968, 85-112.
[3] «ut tota ipsa redempta civitas, hoc est congregatio societasque sanctorum, universale sacrificium offeratur Deo per sacerdotem magnum, qui etiam se ipsum obtulit in passione pro nobis, ut tanti capitis corpus essemus, secundum formam servi. [...] Hoc est sacrificium Christianorum: Multi unum corpus in Christo. Quod etiam sacramento altaris fidelibus noto frequentat Ecclesia, ubi ei demonstratur, quod in ea re, quam offert, ipsa offeratur» Augustinô, De civitate Dei, X, 6: PL 41, 284.
[4] Gioan Phaolô II, Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, 26.
[5] Gioan Phaolô II, Tông thư Mane nobiscum Domine (7/10/2004), 20.
[6] H. de Lubac, Corpus Mysticum. L’Eucharistie et l’Eglise au Moyen Age, Aubier, Paris 19492, 292s; cf. K.W. Irwin, Models of the Eucharist, Paulist Press, New York/Mahwah 2005, 77 đã tóm lược tư tưởng này của Lubac, theo đó “Bí tích Thánh Thể làm nên Giáo Hội” là một công thức mang đầy ý nghĩa vào thời các giáo phụ, trong khi công thức “Giáo Hội làm nên Thánh Thể” lại phù hợp hơn trong thời kỳ Kinh viện.
[7] H. de Lubac, Méditation sur l’Église, Aubier, Paris 1952, 5.
[8] Ibid., 106.
[9] Ibid., 184.
[10] Ibid., 134.
[11] Cf. H. de Lubac, Catholicisme. Les aspects sociaux du dogme, Cerf, Paris 19525, 42.
[12] Ibid., 50.
[13] Ibid., 47.
[14] Ibid., 59.
[15] Cf. K. Rahner, Traité fondamental de la foi, Centurion, Paris 1983, 456-476.
[16] Cf. H. Block, «L’Eucharistie fait-elle toujours l’église?», in La Maison-Dieu 223 (2000/3), 73-92; L. de Villeroché, L’Église fait l’Eucharistie, l’Eucharistie aussi fait l’Église. Un paradoxe en sacramentaire, Cerf, Paris 2021.
Tác giả: Lm. Giuse Phạm Quốc Điêm